Ok

En poursuivant votre navigation sur ce site, vous acceptez l'utilisation de cookies. Ces derniers assurent le bon fonctionnement de nos services. En savoir plus.

26 septembre 2007

Hình Ý Quyền, nguồn gốc và chi phái

Nguồn gốc :

Hình Ý Quyền là một trong ba môn võ hiện được xếp trong Nội Gia mà truyền thuyết cho xuất phát từ núi Võ Đang. Sự thật môn Hình Ý Quyền, lúc đầu mang tên Lục Hợp Quyền, bắt nguồn từ Cơ Tế Khả, biệt danh Long Phong (1602-1683), người tỉnh Sơn Tây. Tài liệu có ghi lại là Cơ Tế Khả có viếng chùa Thiếu Lâm. Hiện nay tại chùa vẩn còn lưu truyền bài Tâm ý bả, với đòn thế rất giống môn Hình Ý hiện đại.
Cơ Tế Khả có hai học trò Tào Kế Võ và Trịnh lão sư.
Tào Kế Võ là một vị tướng dưới triều Hoàng đế Khánh Hy (1662-1772), và dạy cho hai anh em Đới Long Bang (khoảng 1713-1802) và Đới Lăng Bang, người tỉnh Sơn Tây.
Còn Trịnh Lão sư dạy cho Mã Học Lể (khoảng 1715-1790), người tỉnh Hà Nam.
Từ hai nhân vật Đới Long Bang và Mã Học Lể, môn phái chia thành ba chi nhánh.

Từ Mã Học Lể bắt nguồn chi phái Hà Nam, lấy tên Tâm Ý Lục Hợp Quyền. Ông chỉ truyền dạy cho người đạo Hồi. Lự Khao Cao (1873-1963) là người đầu tiên dạy ngoài giới Hồi giáo.

Đới Long Bang dạy hai con trai là Văn Lương và Văn Huân, và Lý Lạc Năng (khoảng 1808- 1890), biệt danh Năng Nhiên.
Đới Văn Lương và Đới Văn Huân chỉ dạy trong gia đình, và cho con trai. Cho tới Đới Khôi (1874-1951), vì không có con trai nên mới chịu truyền ra ngoài dòng tộc. Vì vậy chi phái Sơn Tây, mang danh là Tâm Ý Quyền, mới được phổ biến sau nầy.

Lý Lạc Năng sau khi học với Đới Long Bang, trở về Hà Bắc và thâu học trò tại đây. Từ đó bắt nguồn chi phái Hà Bắc, với tên là Hình Ý Quyền. Chi nhánh nầy được nhiều người theo học và được biết hơn hai chi phái kia. Vào cuối thế kỷ thứ 19, Lý Tồn Nghỉa (1847-1921) và Lưu Vỹ Tường thành lập với hai võ sư Thái Cực Quyền và Bát Quái Chưởng, môn Nội Gia Quyền. Từ đây bắt đầu sự lầm lẩn với môn Nội Gia xưa ghi lại bởi Hoàng Tông Hy (1610-1695), và người ta đều nghỉ là Nội Gia bao gồm ba môn Hình Ý Quyền, Thái Cực Quyền và Bát Quái Chưởng !

Đặc điểm :
Chiến đấu pháp của Hình Ý Quyền có thể tóm gọn trong hai câu : "Khoái công trực thủ, hậu phát tiên chí" (tấn công nhanh trên đường thẳng, đi sau tới trước), "Thiếp thân kháo đả, dĩ đoản chế trường" (Đến sát thân địch vừa hất vừa đánh, dùng đòn ngắn thắng đòn dài). Vì môn đồ Hình Ý Quyền chuyên đánh trên đường thẳng, nhập vào trung môn (chánh diện), nên không cho địch thủ có cơ hội phát triển đòn công và tuy ra đòn sau nhưng đòn lại tới trước. Khi tới sát địch thì hất hay đánh. Chi phái Hà Nam chuyên về hất. Nhưng lúc địch thủ nhanh hơn, thì môn sinh Hình Ý Quyền chạy tấn công bên hông.
Kình lực được phát huy qua sự phối hợp giữa bộ tiến, eo xoay, cột xương sống trôi lên sụp xuống và đòn tay đánh tới.
Tuy là môn phái miền Bắc Trung Quốc nhưng sử dụng nhiều đòn tay hơn đòn đá. Đòn đá lại không quá bụng. Đòn thế lúc phát thì có kình.
Chi phái Hà Bắc đòn thế ngắn gọn, đơn giản dựa trên 17 thế căn bản là Ngũ Hành quyền và Thập nhị Hình quyền. Những bài quyền có Ngũ hành liên hoàn quyền, Thập nhị hình quyền, Tạp thức trùy, Tứ bả quyền, Thập nhị hồng trùy...
Chi phái Sơn Tây giống chi nhánh Hà Bắc hơn. Chương trình huấn luyện bao gồm Ngũ hành quyền, Thập đại hình, Giao tế tứ bả, Ngũ thãng hạp thế...
Chi nhánh Hà Nam thì khác hẳn hai hệ phái trên, đòn thế rộng hơn, mạnh bạo hơn, căn bản chỉ có Thập đại Hình Quyền. Quyền thuật có những bài Thập đại hình, Tứ bả trùy...

Và chúng tôi phải nói tới môn Ý Quyền (còn có tên là Đại Thành Quyền), sáng lập do Vương Hương Chai (khoảng 1885-1963) trên nền tảng Hà Bắc Hình Ý Quyền pha lẩn với vài môn võ khác. Môn nầy không có bài quyền, và rất chú trọng tới phần Ý hơn là phần Hình, nên đặc biệt luyện tập Trạm thung (môn sinh đứng bất động giữ một tư thế và hít thở).

Kết luận : Hình Ý Quyền là môn võ miền Bắc Trung Quốc, có nguồn gốc từ chùa Thiếu Lâm tại tỉnh Hà Nam, với nhiều đòn tay hơn đòn chân, đòn thế đơn giản và mạnh bạo. Môn nầy không có liên quan lịch sử với môn Nội Gia Quyền ghi lại bởi Hoàng Tông Hy vào thế kỷ thứ 17, như hiện nay nhiều võ sư lầm tưởng.



Nguyễn Quí Jacques & Dufresne Thomas
Báo Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh

12 septembre 2007

Sự liên hệ giữa Thiếu Lâm Quyền và Thái Cực Quyền

Trước hết, chúng tôi xin giới thiệu sơ lược hai môn Thiếu Lâm Quyền và Thái Cực Quyền.

Thiếu Lâm tự và Thiếu Lâm Quyền

Tại trung tâm văn hóa và lịch sử của Trung Quốc, tỉnh Hà Nam (Henan), có một ngôi chùa dựng vào năm 495 được danh tiếng trên thế giới. Tiểu thuyết võ hiệp, phim võ thuật, và một phim nhiều kỳ chiếu trên màn ảnh nhỏ bên Mỹ Quốc đã đưa một hình ảnh rất đẹp của những nhà sư ham mê luyện tập quyền thuật và côn pháp.
Trên núi Tung Sơn (Songshan), rừng Thiếu Thất (Shaoshi) đã cho chùa tại đây cái tên Thiếu Lâm (Shaolin). Theo truyền thuyết, vào thế kỷ thứ 6, nhà sư người Ấn Độ tên là Đạt Ma (Damo) tới chùa và lập môn Thiền. Từ đó chùa được danh tiếng trên phương diện đạo giáo.
Vào thế kỷ thứ 7, mười ba võ tăng giúp Hoàng thân Lý Thế Dân (Li Shimin) (599-649) chống lại một tướng phản nghịch. Rồi chùa có tiếng về võ thuật.
Vào thế kỷ thứ 16, Bạch Ngọc Phong lập nên quyền thuật cho chùa. Môn võ danh tiếng khắp nước vào khoảng 1600.
Tiểu thuyết võ hiệp đưa ra khá nhiều truyền kỳ về chùa Thiếu Lâm. Người ta xác nhận là Đạt Ma là tổ sư môn Thiếu Lâm Quyền. Có người bày ra chuyện cạnh tranh giữa nhà sư Thiếu Lâm và đạo sỉ Võ Đang. Lại có người đưa ra thuyết năm nhà sư thoát khỏi cuc hỏa thiêu chùa vào thế kỷ thứ 18...
Truyền thuyết có ghi lại một chùa Thiếu Lâm ở miền Nam nước Trung Hoa; nhưng hiện giờ không ai tìm được vết tích đích xác. Có người định vị trí tại Cữu Liên Sơn (Jiulian shan), còn người khác đặt chùa tại Tuyền Châu (Quanzhou) hay Phước Thanh (Fuqing).
Quyền thuật Thiếu Lâm không ngừng biến đổi trong chùa trên mấy thế kỷ, đặc biệt dưới sự ảnh hưởng của hai danh tướng Thích Kế Quang (Qi Jiguang) (1528-1588) và Du Đại Du (Yu Dayou) (1503-1579).
Thanh danh của nhà sư Thiếu Lâm làm cho nhiều người nói là quyền thuật mình dạy là Thiếu Lâm Quyền! Và như vậy vô số Thiếu Lâm Quyền chào đời. Nhưng phải công nhận là trong số đó có những môn thật sự xuất phát từ một nhà sư hay một đệ tử tục gia của chùa Thiếu Lâm.

Vào thập niên 1980, theo sự đòi hỏi của du khách và báo chí, chùa che chở lực sỉ cải trang thành nhà sư. Những "nhà sư" trẻ tuổi nầy biểu diễn vài trò và dạy một môn quyền thuật hổn hợp từ môn Trường Quyền và từ nhiều môn võ dạy chung quanh chùa.
Chung quanh chùa, ta có thể nêu ra những chi phái xuất từ Thiếu Lâm Quyền cổ truyền :
- Thiếu Lâm Quyền của gia đình họ Giá,
- Thiếu Lâm La Hán Quyền của Chu Thiên Hỷ (thế kỷ thứ 20),
- Thiếu Lâm Thiền Môn của Vương Tử Nhân (sanh năm 1890),
- Thiếu Lâm Quyền của gia đình họ Lương...

Bài quyền Thiếu Lâm có đặc điểm là đánh theo đường thắng, "chỗ một con trâu nằm là đủ". Những bài quyền cổ truyền thịnh hành nhất được dạy trong chùa là :
- Đại hồng quyền,
- Lục hợp quyền,
- La hán quyền,
- Mai hoa quyền,
- Pháo quyền,
- Thất tinh quyền,
- Thông bối quyền,
- Tiểu hồng quyền,
- Tâm ý bả,
- vân vân...


Gia đình họ Trần và Thái Cực Quyền

Vào cuối thế kỷ thứ 14, một người nông dân, tên là Trần Bốc, tới cư ngụ tại một làng nhỏ thuộc huyện Ôn, tỉnh Hà Nam, phía bắc sông Hoàng Hà. Ông là người tỉnh Sơn Tây, và là tổ của gia đình họ Trần. Làng mà ông tới cư ngụ sau đó được gọi là Trần gia câu.
Theo vài người trong gia đình họ Trần, môn võ bắt nguồn từ Trần Bốc, nhưng nhiều học giả khác nghỉ là môn võ chỉ xuất phát từ Trần Vương Đình...

Trần Vương Đình (1600-1680), thế hệ thứ 9, thuộc một gia đình điền chủ và gia đình ông đã biết xử dụng vài môn binh khí.
Quyển "Trần thị gia phổ" có ghi lại : "Ông sinh vào cuối triều đại nhà Minh (Ming), đầu triều đại nhà Thanh, danh tiếng tại tỉnh Sơn Đông (Shandong), đánh đuổi quân cướp, và là người đầu tiên đem vào gia đình ông môn quyền, đao và thương, ông thường xử dụng cây đại đao".

Theo "Hoài Thanh huyện chí", "Ôn huyện chí", và "An Bình huyện chí", vào 1641, Trần Vương Đình chỉ huy Dân quân của huyện Ôn. Những tài liệu nẩy dẫn chứng là Trần Vương Đình phải biết chút ít võ thuật.

Theo gia đình họ Trần, môn võ nầy chỉ truyền trong gia đình từ thế hệ nầy sang thế hệ khác.
Trước thế hệ thứ 14 vào thế kỳ thứ 18, theo "Trần thị Quyền Giới phổ", còn lưu tại Trần Gia câu, môn Thái Cực Quyền thời đó gồm có :

1) Đầu sáo quyền còn được gọi là Thập tam thức,
2) Nhị sáo quyền,
3) Tam sáo quyền còn có tên là Đại tứ sáo trùy,
4) Tứ sáo quyền còn được gọi là Hồng quyền, hay Thái Tổ hạ Nam đường,
5) Ngũ sáo quyền,
6) Trường quyền còn được gọi là Nhất bách linh bát thức,
7) Pháo trùy,
8) Đoản đả,
9) Tán thủ,
10) Kiều thủ,
11) Lược thủ,
12) Sử thủ,
13) Tam thập lục cổn điệt,
14) Kim Cang thập bát noa pháp,
15) Đơn đao,
16) Song đao,
17) Song kiếm,
18) Song giản,
19) Bát thương,
20) Bát thương đối thích pháp,
21) Thập tam thương,
22) Hoàn hậu Trương Dực Đức tứ thương,
23) Nhị thập tứ thương,
24) Nhị thập tứ thương luyện pháp,
25) Bàng la bảng,
26) Xuân thu đao,
27) Bàng la bảng luyện pháp,
28) Tuyền phong côn,
29) Đại chiến phác liêm.

Cho tới thế hệ thứ 14 vào thế kỷ thứ 19 môn võ gia truyền của gia đình họ Trần được chia ra thành hai chi nhánh chánh. Một chi nhánh xuất từ Trần Sở Nhạc, truyền bởi Trần Hữu Bản và Trần Hữu Hằng ; và một chi nhánh khác xuất từ Trần Nhử Tín, truyền bởi Trần Trường Hưng.

Từ ba đại võ sư của thế kỷ thứ 19 nầy, phát sinh ra hai chi nhánh còn lưu truyền hiện nay, chi nhánh Tiểu Giá và Đại Giá. Theo truyền thuyết, ba quyền sư nầy đã tóm gọn lại quyền giá, từ bảy bài quyền xưa, lúc đó chỉ còn lại hai bài : Đệ nhất lộ và Pháo trùy.
Trần Trường Hưng thời đó có dạy ngoài gia đình : hai học trò được biết nhất là Dương Lộ Thiền và Lý Bá Khôi. Dương Lộ Thiền là người thành lập chi phái Dương gia Thái Cực Quyền.
Từ chi nhánh Tiểu Giá phát xuất chi nhánh Triệu Bảo Giá của Trần Thanh Bình (1795-1868).
Còn chi nhánh Đại Giá vào thế kỷ thứ 20 chia ra hai chi phái : Lảo Giá của Trần Chiếu Phi (1893-1972) và Tân Giá của Trần Phát Khoa (1887-1957).

Môn Trần gia Thái Cực Quyền được biết ngoài gia đình họ Trần nhờ công của :
- Trần Phát Khoa và con là Trần Chiếu Khuê (1928-1981), thuộc Tân Giá,
- Trần Chiếu Phi thuộc Lảo Giá,
- Trần Tử Minh (?-1951) thuộc Tiểu Giá.

Chương trình hiện nay của chi phái Lảo Giá Trần gia Thái Cực Quyền bao gồm :
- Thái Cực quyền đệ nhất lộ,
- Thái Cực quyền đệ nhị lộ hay Pháo trùy,
- Ngũ chủng Thôi thủ,
- Thái Cực đơn đao,
- Thái Cực đơn kiếm,
- Thái Cực thương,
- Thái Cực thập tam can,
- Trần thị Xuân thu đại đao,
- Thái Cực song giản,
- Thái Cực song kiếm,
- Thái Cực song đao,
- Thái Cực tam can, bát can đối luyện,
- Thái Cực sao can đối luyện,
- vân vân...

Hiện nay, có năm chi phái Thái Cực Quyền thịnh hành nhất, đó là :
-chi phái Trần từ Trần Vương Đình (1600-1680),
-chi phái Dương từ Dương Lộ Thiền (1799-1872),
-chi phái Ngô từ Ngô Giám Tuyền (1870-1942), học trò đời thứ hai của Dương Lộ Thiền,
-chi phái Võ từ Võ Vũ Tương (1812-1880), học trò của Dương Lộ Thiền và Trần Thanh Bình (thế hệ thứ 15 của gia đình họ Trần, 1795-1868) và
-chi phái Tôn từ Tôn Lộc Đường (1861-1932), học trò đời thứ 2 của Võ Vũ Tương.
Những chi phái Dương, Ngô, Võ và Tôn chỉ dạy một bài quyền, và sau đó môn Thôi thủ. Chi phái Trần có dạy thêm một bài thứ nhì, bài Pháo trùy, bổ túc bài thứ nhất.
Riêng tại Việt Nam có môn Triệu Gia Thái Cực Chưởng, do Triệu Trúc Khê (1898-1991), thuộc Thái Cực Đường Lang Quyền, sáng tác vào thập niên 1950 tại Việt Nam. Chương trình của môn nầy gồm có :
-Thái Cực quyền gồm 24 thức (là bài Giản Hóa Dương gia Thái Cực quyền sáng tác vào thập niên 1950 tại Trung Quốc dưới sự chỉ định của Quốc Gia Thể Ủy),
-Đơn vãn thôi thủ,
-Thái Cực chưởng,
-Thái Cực kiếm,
-Thái Cực đao.
Nhiều môn khác cùng mang tên Thái Cực Quyền, đó là :
-Hòa Gia Thái Cực Quyền lập bởi Hòa Triệu Nguyên (1810-1890), đệ tử của Trần Thanh Bình (1795-1868),
-Lý Gia Thái Cực Quyền lập bởi Lý Thụy Đông, đệ tử đời thứ hai của Dương Lộ Thiền, vào cuối thế kỷ thứ 19, môn nầy còn được gọi là Ngũ Tinh Thái Cực Quyền hay Ngũ Tinh Trùy,
-Lý Gia Thái Cực Quyền truyền bởi Lý Anh Ngang (thế kỷ thứ 20),
-Nhạc Gia Thái Cực Quyền thành lập vào đầu thế kỷ thứ 20,
-Phó Gia Thái Cực Quyền, lập bởi Phó Chấn Tung (1881-1953),
-Tam Hợp Nhất Thái Cực Quyền lập bởi Trương Kính Chi, đệ tử đời thứ tư của Trần Thanh Bình (1795-1868),
-Thiếu Lâm Tổng Hợp Thái Cực Quyền truyền bởi nhà sư Như Tỉnh vào cuối thế kỷ thứ 19,
-Thường Gia Thái Cực Quyền lập bởi Thường Đông Thăng (1909-1986), một danh sư môn Suất Giao, với biệt danh là Hoa Hồ Điệp,
-Triệu Bảo Giá Thái Cực Quyền lập bởi Trần Thanh Bình (1795-1868),
-Trịnh Gia Thái Cực Quyền lập bởi Trịnh Mãn Thanh (1901-1975),
-Trương Gia Thái Cực Quyền truyền bởi Vạn Lai Thanh (Wan Laisheng) (1903-1992),
-Võ Đang Thái Cực Quyền, còn được gọi là Do Long Phái hay Long Hành Thái Cực Quyền, mới sáng tác sau nầy trên tiêu chuẩn của Dương Gia Thái Cực Quyền, hiện dạy trên núi Võ Đang,
-vân vân...

Luận bàn về sự liên hệ giữa Thiếu Lâm Quyền và Thái Cực Quyền

Để cho dể hiểu, chúng tôi xin chia cuộc luận bàn nầy ra tám điều. Giả thuyết chúng tôi trình bày đây, tùy chỉ là một giả thuyết, nhưng dựa vào sự kiện lịch sử.

Điều thứ nhất
Chỉ vào thời Trần Vương Đình ta mới nghe nói tới võ thuật của giòng họ Trần. Trần Vương Đình có phải là người sáng tác ra Thái Cực Quyền hay là ông đã học với một người ngoài gia đình ông?

Điều thứ nhì
Nhà văn Đường Hào (1897-1959) có tới Trần gia câu nghiên cứu và đã đưa ra thuyết là Trần Vương Đình (1600-1680) sáng chế Thái Cực Quyền dựa vào quyển Kỹ hiệu tân thư của Đại tướng Thích Kế Quang (1528-1588). Quyển sách nầy, xuất bản vào năm 1562, mô tả bằng hình vẻ 32 thế quyền, rút tỉa từ 16 môn quyền thuật của cuối triều đại nhà Minh (1368-1644), và 29 trong 32 tên của những thế quyền nầy được tìm thấy trong 7 lộ xưa của môn Thái Cực Quyền. Chẳng những tên giống mà có lúc thế lại giống nhau.

Theo chúng tôi, như vậy Đường Hào đã chứng minh rõ là môn Thái Cực Quyền đã bị ảnh hưởng nhiều bởi môn võ của Thích Kế Quang, nhưng ông không có chứng minh được là môn Thái Cực Quyền được truyền từ Thích Kế Quang... Trần Vương Đình chế môn Thái Cực từ quyển sách Kỹ hiệu tân thư hay là ông đã học môn võ đó từ một đệ tử đời thứ nhất hay thứ nhì của Thích Kế Quang?

Có một môn võ hiền đại, Thích gia Quyền, tự xưng chân truyền từ Thích Kế Quang. Trong những thế đặc biệt của môn phái, chúng tôi có tìm thấy : Bằng (Peng) và Tề (Ji), hai thế quan trọng của Thái Cực Quyền, một điều cần chú ý là hai thế nầy không được ghi lại trong quyển Kỹ hiệu tân thư của Thích Kế Quang.

Điều nầy cho chúng ta nghỉ là môn Thái Cực Quyền không được sáng tác từ quyển sách Kỹ hiệu tân thư mà lại được truyền từ Thích Kế Quang?

Điều thứ ba
Cách làng Trần gia câu cỡ 50 cây số, có một ngôi chùa Thiếu Lâm, được nhiều người biết đến nhờ tiểu thuyết và huyền thoại.

Nếu chúng ta so sánh những bài quyền xưa của Thiếu Lâm Quyền và bài quyền của Thái Cực Quyền, thì chúng ta sẽ thấy nhiều sự trùng hợp. Hơn ba mươi thế và một bài quyền (bài Pháo Trùy) mang cùng tên.
Thời nay khá nhiều sách được xuất bản, nhưng thời xưa ta phải là học trò của môn phái mới biết được tên thế.
Chúng tôi nhắc sự kiện nầy để giải thích là khi những thế của hai môn võ mà trùng tên thì chắc là hai môn nầy cùng một nguồn gốc !

Chúng tôi có tìm thấy những tên sau đây trong những bài của Thái Cực Quyền và Thiếu Lâm Quyền :

- Bạch hạc lượng sí,
- Bài cước,
- Bạch xà thổ tín,
- Bạch viên hiến quả,
- Bạch vân cái đỉnh,
- Triều thiên,
- Xung,
- Đả hổ,
- Đơn tiên,
- Đương đầu pháo,
- Nhị khởi cước,
- Phản thân,
- Phục hổ,
- Hải để lao nguyệt,
- Hoài trung bảo nguyệt,
- Hoàng long tam giảo thủy,
- Kim cang đảo đối,
- Kim kê đc lập,
- Khóa hổ,
- Lan trửu,
- Liên hoàn pháo,
- Điểu long bải vĩ,
- Thất tinh,
- Tước địa long,
- Đồng tử bái Quan Âm,
- Tảo đường thoái,
- Thập tự cước,
- Thập tự thủ,
- Dương cung xạ hổ,
- Vi Đà hiến can,
- Tiên nhân chỉ lộ,
- Tà hành,
- Tuyền phong cước,
- Yến tử chác,
- Dã mã phân tung,
- Ngọc nữ xuyên thoa,
- Trảm thủ,
- vân vân...

Như ta thấy, danh sách những thế trùng tên rất dài. Hơn nửa phần lý thuyết của hai môn phái có nhiều sự trùng hợp như : triền ty, phát kình, cương nhu tương tể, tứ lạng bạt thiên cân ...
Và nhiều tên thế nêu trên đều nằm trong quyển sách của Thích Kế Quang.

Chúng tôi có thể kết luận là Thiếu Lâm Quyền và Thái Cực Quyền đều chịu ảnh hưởng của môn quyền của Thích Kế Quang. Và vì núi Tung sơn không xa làng Trần gia câu, chúng tôi củng nghỉ là hai môn quyền thuật hoặc cùng một nguồn gốc hoặc đã ảnh hưởng lẩn nhau.

Điều thứ tư
Ba tên Kim cang, Vi Đà và Quan Âm trong những thế như : thế thứ hai của Thái Cực quyền đệ nhất lộ, thế thứ bốn mươi bảy của Thái Cực đơn kiếm và thế thứ hai của Thái Cực thập tam can không có trong quyển sách của Thích Kế Quang.
Ba tên của hai vị Phật và một vị Thần nầy cho phép chúng tôi nghỉ là môn Thái Cực Quyền bắt nguồn từ Thiếu Lâm Quyền. Và môn Thiếu Lâm có gốc từ võ thuật của Thích Kế Quang vì trong hơn nửa những bài của Thiếu Lâm đều có ít nhất một thế của Thích Kế Quang.
Xin nhắc lại là chùa Thiếu Lâm thường mời danh tài võ thuật đến chùa để trao đổi kỹ thuật.

Điều thứ năm
Lược sử gia võ thuật Matsuta Takachi, trong quyển Trung Quốc võ thuật sử lược, ghi lại những trùng hợp giữa hai môn phái : bài Hồng quyền, bài thứ tư của môn Thái Cực Quyền thời xưa, giống bài Hồng quyền của Thiếu Lâm Môn.
Trong bài Bàng la bảng của Trần Vương Đình và một bài côn của Thiếu Lâm môn, Matsuta còn tìm thấy bốn thế giống nhau và mang cùng tên :
- Triều thiên thế,
- Đường sơn thế,
- Địa xà thế,
- Khóa kiếm thế.

Điều thứ sáu
Nhưng điều mà Matsuta không ghi nhận là hai thế trong bốn thế côn (Triều thiên thế và Khóa kiếm thế) mà ông nêu ra đều nằm trong phần Thương phổ của Thích Kế Quang. Và quan trọng hơn, bốn thế đó chúng tôi đều tìm thấy trong quyển sách của Trình Xung Đẩu (1561- ?), xuất bản vào năm 1621 : Thiếu Lâm côn pháp xiển tông ! Trình Xung Đẩu là đệ tử tục gia của chùa Thiếu Lâm.
Như vậy phải là Thiếu Lâm Quyền đã ảnh hưởng Thái Cực Quyền vì Trình Xung Đẩu sanh bốn mươi năm trước Trần Vương Đình ?

Điều thứ bảy
Vào năm 1984, quyển Thiếu Lâm võ thuật, xuất bản tại tỉnh Hà Nam, trình bày bài Tâm ý quyền. Tác giả Giá Triệu Tuyền nói là bài nầy được truyền từ ông tổ Giá Thục Vọng, một đệ tử của chùa Thiếu Lâm.
Giá Triệu Tuyền cắt nghĩa là ông tổ của ông đã chép bài Tâm ý quyền từ một quyển sách trong thư viện của chùa Thiếu Lâm, vào triều đại Hoàng Đế Khánh Hy (1662-1723), khoảng thời gian cuối đời của Trần Vương Đình (1600-1680). Mà phần diễn thế của bài Tâm ý quyền giống y bài Thái Cực quyền đệ nhất lộ và thế của hai bài trùng tên rất nhiều !

Khi chúng tôi khám phá ra quyển sách nầy, chúng tôi bị kinh ngạc bởi vài sự kiện.

- Sự kiện thứ nhất, chùa Thiếu Lâm và làng Trần gia câu chỉ cách nhau chừng độ hai ngày đi bộ. Vả lại, vào thế kỷ thứ 17, Trần Vương Đình có tới núi Tung sơn khuyên bạn ông là Lý Tế Ngộ (Li Jiyu) hàng đầu nhà Minh.

- Sự kiện thứ nhì, không như ta lầm tưởng, Thiếu Lâm Quyền và Thái Cực Quyền có lý thuyết, thế và bài rất giống nhau.

- Sự kiện thứ ba, Thiếu Lâm Quyền và Thái Cực Quyền đều bị ảnh hưởng bởi môn võ của Thích Kế Quang.

- Sự kiện thứ tư, hai môn đều có vài thế võ mà ta không tìm thấy trong môn võ của Thích Kế Quang...

Điều thứ tám
Theo như Đại tướng Du Đại Du thuật lại trong quyển "Chánh khí đương tập", vào năm 1561, Du Đại Du, lúc đem quân đi xuống hướng nam, đã ghé thăm chùa Thiếu Lâm, và chỉ trích môn côn pháp của các nhà sư, nộp hai hòa thượng Tông Kình và Phổ Tòng làm đệ tử, cùng nhau đánh đuổi quân Nhật Bãn trong ba năm ; Tông Kình và Phổ Tòng học với Du Đại Du côn, kiếm, khinh công và quyền pháp ; sau đó, Tông Kình trở về Thiếu Lâm tự và truyền lại môn võ của Du Đại Du.
Du Đại Du là bạn thân của Thích Kế Quang (1528-1588), Thích Kế Quang cùng tập luyện chung với Du Đại Du và học côn pháp với Du Đại Du. Dỉ nhiên trong nhửng môn võ của Thích Kế Quang ghi chép lại, có một phần là môn võ của Du Đại Du.


Kết luận cho tám điều trên

Tất cả những sự kiện trên cho phép chúng tôi nghỉ là môn Thiếu Lâm Quyền được hoàn toàn canh tân lại vào thế kỷ thứ 16 dưới sự ảnh hưởng của môn võ của Du Đại Du (1503-1579) và Thích Kế Quang (1528-1588).
Sau đó vài chục năm, Trần Vương Đình (1600-1680), Tưởng Phát (1574-?) hay một người khác học môn quyền của Thiếu Lâm và đem lại Trần gia câu.
Cuối cùng, Thiếu Lâm Quyền theo thời gian được canh tân lại nhiều lần.

Tóm lại, Thái Cực Quyền bắt nguồn từ môn võ của hai ông Du và Thích qua sự trung gian của Thiếu Lâm Quyền vào thế kỷ thứ 16 và 17.
Dỉ nhiên môn Thái Cực Quyền sau đó đã chịu ảnh hưởng của những môn khác và được gia đình họ Trần tu bổ thêm nên môn Thái Cực có những đắc điểm mà ta không tìm thấy trong môn võ của Du hay của Thích hay môn Thiếu Lâm.


Nguyễn Quí Jacques và Dufresne Thomas

03 août 2007

Thích Kế Quang, đơn giản và hữu dụng trong võ thuật Trung Hoa

Trong lịch sử võ thuật Trung Hoa, có những nhân vật mà ai cũng đều biết đến, như hòa thượng Đạt Ma, đạo sĩ Trương Tam Phong hay đại tướng Nhạc Phi, mà truyền thuyết gán cho nhiều công lao. Ngược lại có những danh tài dù có bằng chứng khoa học xác nhận công trình của họ, nhưng lại ít người nhắc đến. Đó là hai đại tướng Thích Kế Quang và Du Đại Du. Lần lược trong hai bài, chúng tôi xin giới thiệu công lao của hai vị nầy. Và bài nầy xin trình bày gia tài do Thích Kế Quang truyền lại.

Thích Kế Quang (1528-1588) người tỉnh Sơn Đông, miền Bắc Trung Quốc, thuộc gia đình truyền thống quan võ, từ nhỏ, được cha cho theo học văn chương và binh thư. Từ 1544, lúc 16 tuổi, ông thừa kế cha chức phó tư lệnh thành Đăng Châu. Tới năm 1549, tại Sơn Đông, ông đổ võ cử nhân, nhưng năm sau rớt khoa võ tiến sĩ tại Bắc Kinh. Lúc đó quân Mông Cổ vượt qua Trường thành đánh vào thành Bắc Kinh nên ông ở lại tham gia bảo vệ kinh thành. Sau ông trở lại Sơn Đông, cho tới năm 1555 được phong chức tham tướng tại Triết Giang, hợp tác với Du Đại Du đánh quân cướp biển người Nhật. Ông huấn luyện 3000 quân qua "Uyên ương trận", cốt ý chống lại quân Nhật đáng sợ với đường tên chính xác và đao có thể cắt đứt võ khí binh lính Trung Quốc. Trận pháp gồm người mang đồ đở để chống lại tên, người cầm cây trúc còn nhánh cây dùng để làm chậm bước tiến của người Nhật dùng đao, trong lúc người mang trường thương thừa cơ hội đâm quân cướp. Nhưng phải chờ tới năm 1567, quân Nụy Khấu mới được dẹp tan.
Vào thời đó ông nhờ Du giới thiệu học với Lý Lương Khâm côn thuật. Và năm 1567, ông được phong chức phó tư lệnh tại Bắc Kinh.
Tại Triết Giang, vào 1560, ông bắt đầu soạn quyển "Kỹ hiệu tân thư", tới 1562 mới có dịp xuất bản. Tác phẩm gồm 18 quyển, trong đó quyển thứ 14 "Quyền kinh tiệp yếu thiên" luận bàn về quyền thuật, chứa đựng 32 thế, tuy đơn giản nhưng hữu dụng. Quyển thứ 10 là "Trường binh đoản dụng thuyết thiên" ghi lại 24 thế thương, quyển thứ 11 có "Đằng bài tổng thuyết thiên" với 8 thế dùng khiêng, và "Lang tiển tổng thuyết thiên" dạy 6 thế lang tiển của Trần Đệ. Quyển thứ 12, "Đoản binh trường dụng thuyết thiên" chép lại chương "Kiếm kinh" của Du Đại Du với 14 hình song đấu côn. Và quyển thứ 13 "Xạ pháp thiên" là của đại tướng Du, ghi lại cách bắn cung.
Lúc ông chiến đấu quân cướp biển Nhật, ông nhận định là đao Nhật đơn giản nhưng lợi hại nên trong lần tái bản đã giảng về môn đao nầy trong hai chương "Yêu đao giải" và "Trường đao giải".

Mở đầu cho phần quyền thuật, ông viết : "Quyền pháp không can dự đến trận chiến, chỉ để hoạt động tay chân, chăm sóc thân thể, dẫn nhập cho binh thuật" (Quyền pháp tự vô dự ư đại chiến chi kỹ, nhiên hoạt động thủ túc, quán cần chi thể, thử vi sơ học nhập nghệ chi môn dã). Như vậy quyền thuật chỉ là kỹ thuật phụ trong quân đội dưới triều đại nhà Minh.
Tuy vậy hiện nay trong hơn nữa số bài quyền của chùa Thiếu Lâm, chúng tôi có thấy ít nhứt một thế của Thích Kế Quang, và có thể nêu ra vài thế như Thất tinh, Đơn tiên, Kim kê độc lập, Đảo tháp thế, Chỉ đang thế, Nhất điều tiên, Khóa hổ, Đương đầu pháo.
Đường Hào (1897-1959), lịch sử gia võ thuật Trung Hoa, có tìm được 29 thế của họ Thích trong 7 lộ của Trần gia Thái Cực Quyền xưa.
Và có hai thế thương của Thích Kế Quang còn lưu lại trong Trần gia Thái Cực Quyền và Thiếu Lâm Phái : Khóa kiếm thế và Triều thiên thế.
Như vậy hai môn phái quan trọng của Trung Quốc đều chịu sự ảnh hưởng của Thích Kế Quang, qua trung gian của Du Đại Du, bạn thân của ông. Vì họ Du có truyền võ thuật cho một nhà sư chùa Thiếu Lâm, chuyện nầy chúng tôi sẽ bàn trong bài sau. Và chúng tôi có chứng minh sự liên hệ giữa Thiếu Lâm Quyền và Thái Cực Quyền của họ Trần.

Phần binh khí có ghi lại tám thế thương căn bản (Bát mẩu thương khởi thủ) nền tảng của thương pháp hiện đại, hiện vẫn còn lưu truyền trong tất cả các môn phái. Trong đó có ba thế quan trọng là "Lan nả trát", lan là quấn đầu thương nghịch chiều kim đồng hồ để gạt một đòn đâm, nả là thế đi theo chiều kim đồng hồ nhằm tấn công vào tay trước của địch để rồi đâm (trát) vào thân hay cổ địch.

Thích Kế Quang có ghi lại bốn nguyên lý chiến đấu.
Nguyên lý "Thường sơn xà trận pháp" chép lại từ Tôn Tử binh pháp (thế kỷ thứ 5 trước Tây Lịch) được ông áp dụng trong quyền thuật : "chánh như Thường sơn xà trận pháp, đánh đầu thì đuôi tiếp ứng, đánh đuôi thì đầu tiếp ứng, đánh thân thì đầu và đuôi tương ứng" (chánh như Thường sơn xà trận pháp, kích đầu tắc vỹ ứng, kích vỹ tắc đầu ứng, kích kỳ thân nhi đầu vỹ tương ứng). Trong Vịnh Xuân chi thủ, khi địch chụp tay phải ta, tay trái ta liền tấn công ; khi địch chụp cổ tay phải ta, ta liền tiến sát gần đánh tấp chỏ phải. Lúc luyện Thái Cực thôi thủ, nếu chỏ ta bị chụp, ta liền dùng vai hất địch. Trong bài Tinh Võ Hội Hợp chiến quyền, khi ta bị bẻ tay, ta liền xoay người theo chiều bẻ tay, dùng tay kia chụp cổ đối thủ.

Chiến thuật trá bại được đại tướng trình bày trong ba chương về quyền, côn và thương. Đó là ba thế "Đảo kỳ long", "Tẩu mã hồi đầu thức" và "Dương du trá hồi thương pháp". Đây là chiến thuật giả bộ thua chạy dụ địch đuổi theo để xoay người đánh một quyền hay đâm một thương, còn lưu lại trong các bài binh khí như Trung Ương Quốc Thuật Quán Tam tài kiếm, Tinh Võ Hội Ngũ hổ thương, Thất Tinh Đường Lang Yến Thanh đơn đao, Vĩnh Xuân Bạch Hạc Song long xuất thủy song đao, Trần Gia Thái Cực Thập tam can, Trần Gia Thái Cực Xuân Thu đại đao... Quyền thuật tại hai tỉnh Quảng Đông và Phước Kiến, có thế giả thua xoay lưng chạy rồi ngồi xuống đất để bất thình lình xoay người lại ném cát vào mắt địch hay nhảy lên đá vào hạ bộ đối thủ, thế có tên là "Linh miêu hí thử" (mèo đùa giởn với chuột !).

Nguyên lý "hư thật" và "kỳ chánh" xuất từ Tôn Tử binh pháp được áp dụng trong quyền thuật. Hư thật và kỳ chánh chỉ sự dối trá để lừa địch, đòn đầu là hư và đòn sau là thật. Nhưng hai đòn đầu cũng có thể là hư chỉ đòn thứ ba và thứ tư mới là thật, đây là "Hư hư thật thật" hay "Kỳ kỳ chánh chánh". Địch không biết lúc nào là hư lúc nào là thật !

Khái niệm "tiểu môn" và "đại môn" là nền tảng của võ thuật Trung Quốc. Muốn tấn công địch như muốn vào nhà, muốn vào nhà thì ta phải mỡ cửa, nhà xưa đều có hai cửa : cửa trước và cửa sau. Đại môn là khoảng cách giữa hai tay, là cửa trước, tiểu môn là hông hay lưng địch, là cửa sau. Đường đi vào đại môn ngắn hơn nhưng nguy hiểm hơn vì địch có thể phản công dễ dàng. Ta tấn công vào đại môn khi ta ra đòn trước, khi thế lực ta mạnh hơn. Khi đòn địch không nằm trên trung tâm tuyến thì ta tiến vào cửa chánh vừa đở vừa tấn công.
Thường ta chờ địch tấn công để kéo tay địch qua một bên buộc địch mở tiểu môn để ta xâm nhập, như Thích Kế Quang giải thích trong thế "Phao giá tử". Đây là nguyên lý rất quan trọng trong võ thuật Trung Hoa. Bát Quái Chưởng vừa niêm kéo tay địch qua một bên vừa chạy qua bên kia để đánh vô lưng địch. Vịnh Xuân né mình qua bên và hất tay đối thủ để tấn công vào bên hông. Bắc Phái Đường Lang Quyền tiến vào trung môn kéo tay địch qua bên để tấn công.

Khi ta nghiên cứu qua 32 thế quyền của đại tướng, ta có thể thấy vài chiến lược khác như "Thanh đông kích tây" (Làm tiếng động hướng đông nhưng đánh hướng tây) và "Thượng kinh hạ thủ" (Làm địch sợ hải ở trên để tấn công ở dưới).
Và nguyên lý quan trọng khác là "tiệt đả", hiện nay là căn bản của võ thuật Trung Quốc : vừa tiếp đón đòn địch lúc chưa phát triển trên đường chính diện, vừa phản công.

Gia tài Thích Kế Quang để lại là nhiều thế võ đơn giản kèm theo vài nguyên lý chiến đấu đã ảnh hưởng rất nhiều môn phái cận đại, trong đó có hai môn phái lớn là Thiếu Lâm Quyền và Thái Cực Quyền. Những nguyên lý ông truyền lại, tuy giảng nghĩa phức tạp nhưng trong thực dụng rất đơn giản và hữu hiệu.

Nguyễn Quí Jacques & Dufresne Thomas
Báo Thể thao thành phố Hồ Chí Minh số 179 (ngày 22/10/2001) và số 184 (ngày 29/10/2001)

Tài liệu tham khảo :
Thích Kế Quang, Kỹ hiệu tân thư, Trung Quốc,
Dictionary of Ming biography, volume I, Columbia University Press, Mỹ, 1976,
Matsuta Takachi, Trung Quốc võ thuật sử lược, Trung Quốc, 1984,
Mã Hiền Đạt và đồng nghiệp, Trung Quốc võ thuật đại tự điển, Trung Quốc, 1990.

23 janvier 2007

Un ancien traité de Taiji Quan

Le Taiji Quan lun est un des traités les plus fameux de Taiji Quan. Ce texte a été découvert au milieu du 19e siècle par Wu Chengqing, frère aîné de Wu Yuxiang (1812-1880). Il est attribué à un certain Wang Zongyue (fin du 18e siècle).

En voici une traduction nouvelle, plus littérale que littéraire...




 

太 極 拳 論

Taiji Quan lun

« Traité de Taiji Quan »





 

太 極 者 , 無 極 而 生 , 動 靜 之 機 , 陰 陽 之 母 也 。

Taiji zhe, wuji er sheng, dongjing zhi ji, Yinyang zhi mu ye.

« Qu’est-ce que le Taiji ? (Il) naît du Wuji, (il est) le mécanisme du mouvement et de l'immobilité, (il est) la mère du Yin et du Yang. »


Remarques : Le Wuji, principe philosophique chinois, symbolise le néant, l’indéfini. C’est ce qui précède l’engagement, le combat.

Dès que les mains sont en contact, les deux opposants forment un Taiji.

L’attente précède l’attaque, comme l’immobilité précède le mouvement.

Ji, que nous avons traduit ici par mécanisme, a aussi le sens de moteur, de secret et de stratagème.

Est-il utile d’ajouter que le Yin complète le Yang pour former un Taiji, de même que la défense de l’un complète l’attaque de l’autre sans s’y opposer ?




 

動 之 則 分 , 靜 之 則 合 。

Dong zhi ze fen, jing zhi ze he.

« (Si on) bouge alors (on est) séparé, (si on est) immobile alors (on est) uni. »

Remarques : L’expert est immobile (Jing), comme une araignée sur sa toile, à « l’écoute » de sa proie, en contact (He) avec elle. Dès que l’adversaire attaque, il se dévoile...

Sunzi (fin 5e-début 6e av. J-C), le plus grand stratège chinois, dans son Art de la guerre (Bing fa 兵法), recommandait : « Partir en dernier, arriver en premier » (Hou ren fa, xian ren zhi 後人發,先人至).

Les Budokas japonais écrivent plus simplement : « (Partir) après (arriver) avant » (Go no sen).

Sunzi ajoutait : « Pour être un bon stratège, (il faut) d’abord ne pas se laisser vaincre, ensuite attendre l’adversaire pour le vaincre » (Xi zhi shan zhan sheng zhe, xian wei bu ke sheng, yi dai di zhi ke sheng 昔之善戰者,先為不可勝,以待敵之可勝).

Au 16e siècle, Li Liangqin, spécialiste de la lance, professait de : « Garder l’immobilité (pour) attendre le mouvement » (Yi jing dai dong 以靜待動). Son élève, le général Yu Dayou (1503-1579), enseignait lui aussi cette Attente (Dai 待).

L’attente se retrouve également dans la « Boxe interne » (Neijia Quan), dans le Taiji Quan de la famille Chen, ainsi qu’à Shaolin. La famille Liu, qui s’adonne à la boxe de Shaolin depuis plusieurs générations, précise : « Occuper la porte centrale (et) attendre l’adversaire » (Caiding zhongmen dai di 踩定中門待敵).

Cette attente (Tai selon la prononciation On japonaise) est également connue des experts de sabre japonais. Akira Kurosawa (1910-1998) l’a notamment mise en scène dans ses Sept samouraïs (Shichinin no samourai). Lors d’un duel au bokken puis au sabre, le meilleur bretteur de la bande, Kyuzo (joué par Seiji Miyaguchi), attend l’attaque de son adversaire.

On ne sera pas étonné que l’Attente (Tai) des sabreurs japonais s’écrive avec le même caractère que l’Attente (Dai) de Sunzi, de Li Liangqin, de Yu Dayou, du Shaolin Quan, du Taiji Quan et du Neijia Quan...




 

無 過 不 及 , 隨 曲 就 伸 。

Wu guo bu ji, sui qu jiu shen.

« Sans précéder ni être en retard, (je) suis la flexion (ou) l’extension (de l’autre). »

Remarques : Si l'adversaire se replie, alors on s’étend. S’il s’étend, on se replie. On suit souplement son mouvement, en collant à lui.

Le « Canon de la boxe » (Quanjing), chant du Taiji Quan de la famille Chen détaille : « (Je) laisse faire, (je suis) la flexion (ou) l’extension, l’adversaire ne (peut) comprendre ; m’approchant et l’entourant je me conforme complètement à lui » (Zong fang qu shen ren mo zhi, zhu kao chan rao wo jie yi 縱放屈伸人莫知,諸靠纏繞我皆依).

Chen Changxing (1771-1853), expert de cette même famille, dans ses « Dits sur les règles de l'application martiale » (Yongwu yaoyan 用武要言), résume : « S’accorder (à) l’adversaire, le prendre comme guide » (Yu di yi de ren wei zhun 遇敵以得人為準).

Cette idée est déjà présente chez le général Yu Dayou, grand connaisseur de l’art du bâton : « Suivre le mouvement de l'adversaire, (pour) emprunter la force de l’adversaire » (Shun ren zhi shi, jie ren zhi li 順人之勢,借人之力).

Cela peut surprendre, mais cette idée est tout aussi présente dans le Shaolin Quan. C'est la Force cotonneuse (Mianjing 綿勁), citée par le « Canon de la boxe de Shaolin » (Shaolin quanpu 少林拳譜).




 

人 剛 我 柔 謂 之 走 , 我 順 人 背 謂 之 黏 。

Ren gang wo rou wei zhi zou, wo shun renbei wei zhi nian.

« Il (est) dur je (suis) souple (cela) se nomme se dérober, je suis (derrière) son dos (cela) se nomme coller. »

Remarques : On ne s’oppose pas à la poussée, on y cède.
On ne quitte pas l’adversaire, on le suit comme son ombre, comme si on poursuit un fuyard.




 

動 急 則 急 應 , 動 緩 則 緩 隨 。

Dong ji ze ji ying, dong huan ze huan sui.

« (Il) bouge vite alors (je) réagis vite, (il) bouge lentement alors (je) réagis lentement. »

Remarque : Si l’adversaire tire ou pousse lentement, il est dangereux d’essayer de le contrer immédiatement, car il peut utiliser alors notre force.

Il faut plutôt attendre, en l’obligeant à se révéler. Le singe ne cueille pas un fruit vert.


 

雖 變 化 萬 端 , 而 理 唯 一 貫 。

Sui bianhua wanduan, er li wei yiguan.

« Bien qu’ (il y ait) dix mille manières de transformer (l’attaque adverse), (il n'y a qu’) un seul principe (qui les) relie (toutes). »

Remarques : Yiguan littéralement est le fil qui relie les perles, ces perles étant bien sûr les dix mille manières. Yiguan symbolise le principe unique qui régit les réactions du stratège.



 

由 著 熟 而 漸 悟 懂 勁 , 由 懂 勁 而 階 及 神 明 。

You zhu shu er jian wu dongjing, you dongjing er jie ji shenming.

« Avec l'entraînement (on) arrive peu à peu à la compréhension du Dongjing, avec le Dongjing (on) parvient graduellement à la clarté divine. »

Remarques : Dans une première étape, on comprend les attaques adverses ; dans une seconde étape, cette compréhension gagne tout l’être en profondeur.

Le Dongjing est la « Force qui comprend » les mouvements de l’opposant.

La Clarté divine (Shenming) est l’état de conscience où l’esprit (Shen) devient parfaitement lucide (Ming).

 

 

然 非 用 力 之 久 , 不 能 豁 然 貫 通 焉 。

Ran fei yongli zhi jiu, buneng huoran guantong yan.
« C’est pourquoi (il faut s’exercer) longtemps (à) ne pas utiliser la force, (car on) ne peut comprendre tout cela rapidement. »

 

Remarque : Lorsque tout un chacun est poussé, son réflexe est de résister... et le plus puissant des deux antagonistes l’emporte.
L’expert, lui, s’entraîne à ne pas s’opposer, afin d’emprunter la force adverse.

 

 

虛 領 頂 勁 , 氣 沉 丹 田 , 不 偏 不 倚 , 忽 隱 忽 現 。

Xu ling ding jing, qi chen Dantian, bupian buyi, huyin huxian.
« Souplement diriger la force vers le haut, descendre l’énergie dans le Dantian, sans se pencher ni s’appuyer (sur l’adversaire), soudain on cache, soudain on montre. »

 

Remarques : L’historien Tang Hao 唐豪 (1896-1959) a remarqué que tout le début de ce traité était inspiré par un texte philosophique de Zhou Dunyi 周敦頤 (1017-1073) paru en 1757 dans « Les œuvres complètes de Maître Zhou » (Zhouzi quan shu 周子全書).
Voici ces passages : « (D’abord) le Wuji puis le Taiji... le Taiji engendre le Yin et le Yang... sans le précéder ni être en retard... sans s’écarter ni dévier... le Yang est le mouvement et le Yin est l’union (He), (c’est) pourquoi le jour Yang est changeant et le jour Yin est uni (He)... le Yin et le Yang ne sont pas séparables, mutuellement (ils) s’harmonisent merveilleusement » (Wuji er Taiji 無極而太極... Taiji sheng Yinyang 太極生陰陽... wu guo bu ji 無過不及... bu pian bu yi 不偏不倚... Yang zhu dong er Yin zhu he, gu Yang yue bian Yin yue he 陽主動而陰主合 , 故陽曰變而陰曰合... Yinyang bu xiang li, you you xiangxu xianghu zhi miao 陰陽不相離 , 又有相須相互之妙).

Le buste est décontracté mais vertical (Xu ling ding jing), le centre de gravité est bas (Qi chen Dantian).
Le Champ de cinabre (Dantian), foyer de l’Energie (Qi), se trouve dans le ventre, à quelques centimètres sous le nombril. Ce point correspond au centre de gravité. Biomécaniquement, le Dantian est un endroit où l’on va recevoir et amplifier l’énergie cinétique...

On ne peut rester immobile à attendre l’adversaire, que si l’on est parfaitement équilibré. C’est-à-dire que le buste est droit, que la tête est droite, que le centre de gravité est bas et que l’aplomb de ce dernier tombe au centre de notre polygone de sustentation. On doit toutefois rester souple, pour pouvoir réagir promptement à l’attaque.
De plus, maintenir le buste droit permet de pivoter aisément sur notre axe vertical de rotation (l’axe qui passe par le sommet de notre crâne, notre tronc et notre centre de gravité), telle une roue horizontale.

L’expert attend l’attaque, immobile, rien ne trahit ses intentions. Le ciel semble serein. L’assaillant passe à l’offensive, il est aussitôt surpris par un coup de tonnerre qui déchire le ciel...

 

 

左 重 則 左 虛 , 右 重 則 右 杳 。

Zuo zhong ze zuo xu, you zhong ze you yao.
« (Il exerce) une pression à gauche (je) vide la gauche, (il exerce) une pression à droite (je) vide la droite. »

 

Remarques : Ceci est l’équivalent de la stratégie fondamentale de l’art de la lance : si un assaillant attaque avec la technique Lan (mouvement dans le sens des aiguilles d’une montre, afin de presser latéralement), on répond immédiatement par la technique Na (mouvement dans le sens inverse des aiguilles d’une montre). S’il attaque avec Na, on répond par Lan.
Bref, si l’adversaire presse sur le côté, au lieu de lui résister, on cède, pour presser dans le même sens que lui. L’adversaire, perdant brusquement le point d’application de sa force, se trouve emporté par sa propre énergie cinétique.

L’entraînement à la stratégie de la lance est souvent illustré dans les films de Liu Jialiang (né en 1935), à la fois pratiquant de Hongjia et réalisateur de Hongkong. Liu Jialiang a eu les honneurs des Cahiers du cinéma en 1984.
Dans son film Lu Acai et Huang Feihong (Lu Acai yu Huang Feihong, distribué en France sous le titre du Combat des maîtres), le jeune Huang Feihong (interprété par Liu Jiahui), sous la direction de Lu Acai (joué par Chen Guantai), s’entraîne inlassablement, avec la pointe de sa lance, à tourner autour d’un frêle bol tenu verticalement, en essayant de ne pas le casser...

 

 

仰 之 則 彌 高 , 俯 之 則 彌 深 。

Yang zhi ze migao, fu zhi ze mishen.
« (S’il) presse vers le haut alors (je l'emmène encore) plus haut, (s’il) presse vers le bas alors (je l'amène encore) plus bas. »

 

Remarques : Ce couple Yang/Fu (presser vers le haut ou vers le bas) fait partie du vocabulaire traditionnel des arts martiaux chinois.
Cheng Chongdou (1561-1636), dans sa pratique de la lance, oppose la main en supination (Yangshou 仰手), à celle en pronation (Fushou 覆手), le caractère Fu (tourner) étant homophone de celui utilisé dans le Taiji Quan lun.
En Bagua Zhang, existe aussi la paume qui presse vers le haut (Yangzhang 仰掌) et celle qui presse vers le bas (Fuzhang 俯掌), avec, cette fois-ci, le même caractère Fu qu’ici.

 

 

進 之 則 愈 長 , 退 之 則 愈 促 。

Jin zhi ze yuchang, tui zhi ze yucu.
« (S’il) avance alors la distance (qui nous sépare) augmente, (s’il) recule alors la distance (qui nous sépare) diminue. »

 

Remarques : On adhère sans force. Si l’opposant tente d’augmenter la pression, en appuyant davantage, il n’y arrive pas, car on cède. S’il veut s’éloigner pour se décoller, il n’y arrive pas non plus, car on colle.

Les trois phrases précédentes, de 10 caractères chacune, traitent successivement des trois dimensions spatiales (gauche/droite, haut/bas, avant/arrière).

Les 30 derniers caractères, que nous venons de traduire, rappellent un passage du traité d’épée du chevalier Bi Kun 畢坤 (14e siècle).

 

 

一 羽 不 能 加 , 蠅 蟲 不 能 落 。

Yi yu buneng jia, yingchong buneng luo.
« Une plume ne peut s’ajouter, une mouche ne peut se poser. »

 

Remarque : Les mains réagissent avec sensibilité à la pression adverse. La réaction est mesurée à l’action.

 

 

人 不 知 我 , 我 獨 知 人 。

Ren buzhi wo, wo duzhi ren.
« Il ne me connaît pas, je suis seul à le connaître. »

 

Remarque : Selon l’ « Entretien entre (l’empereur) Tang Taizong et Monsieur Li Wei » (Tang Taizong Li Wei gong wendui 唐太宗李衛公問對), l’un des sept traités classiques de la stratégie chinoise : « Le bon stratège commence par ne point se laisser deviner, ainsi l’adversaire se trompe. » (Shan yong bing zhe, xian wei bu ke ce, ze di guai qi suo zhi ye 善用兵者,先為不可測,則敵乖其所之也).

La Force qui comprend (Dongjing) cherche, bien entendu, à ne pas être comprise...

 

 

英 雄 所 向 無 敵 , 蓋 皆 由 此 而 及 也 。

Yingxiong suo xiang wudi, gai jie youci er ji ye.
« Le héros tend à être invincible, grâce à tout ce qui a été dit plus haut (on y) parvient. »

 

Remarque : Il s’agit d’une allusion à l’aphorisme célèbre du stratège Sunzi : « Se connaître et connaître l’autre, alors cent combats sans défaite » (Zhi bi zhi ji, baizhan budai 知彼知己,百戰不殆).

 


 

斯 技 旁 門 甚 多 , 雖 勢 有 區 別 , 概 不 外 壯 欺 弱 , 慢 讓 快 耳 。

Si ji pangmen shenduo, sui shi you qubie, gai buwai zhuang qi ruo, man rang kuai er.
« Les techniques (des arts martiaux) sont innombrables, (et) bien qu'elles soient différentes, elles ne font pas exception (au fait que) le fort domine le faible, (que) le lent soit dominé par le rapide. »

 

Remarque : Ceux, qui ignorent la Force qui comprend (Dongjing), ne font que comparer leur force et leur vitesse ; le plus puissant et le plus véloce l’emportant sur le moins vif et le plus chétif.

 

 

有 力 打 無 力 , 手 慢 讓 手 快 , 是 皆 先 天 自 然 之 能 , 非 關 學 力 而 有 為 也 。

You li da wu li, shou man rang shou kuai, shi jie xiantian ziran zhi neng, fei guan xue li er you wei ye.
« (Lorsque) le fort bat le faible, (que) la main lente est dominé par la main rapide, cela (n)’est (qu’une) capacité innée, (qui) n'a rien à voir avec l'apprentissage de la force (raffinée). »

 

Remarque : L’auteur oppose la force brute, innée, à la force raffinée qui est le résultat d’un apprentissage et d’une compréhension profonde.

 

 

察 四 兩 撥 千 斤 之 句 , 顯 非 力 勝 , 觀 耄 耋 能 禦 眾 之 形 , 快 何 能 為 。

Cha Si liang bo qian jin zhi gou, xian fei li sheng, guan maodie neng yu zhong zhi xing, kuai he neng wei.
« (Si l'on) examine le dicton "quatre liang l'emportent sur mille livres", (il est) manifeste (que) le faible gagne, (d’ailleurs quand on voit) un vieillard tenir tête à une foule, est-ce grâce à la vitesse ? »

 

Remarques : 4 liang correspondent à 500 grammes, c’est-à-dire à mille fois moins que 1 000 livres.
Lorsque 4 liang l'emportent sur 1 000 livres, un gouffre s’ouvre brusquement sous les pieds de l’adversaire qui tombe emporté par son propre élan.
Un vieillard, malgré les ans, est capable de : « Pousser un bateau dans le sens du courant » (Shun shui tui zhou 順水推舟).

 

 

立 如 平 準 , 活 似 車 輪 。

Li ru pingzhun, huo si chelun.
« Debout comme une balance en équilibre, (mais) mobiles comme une roue. »

 

Remarques : La balance et ses deux plateaux symbolisent les deux lutteurs en contact. Le fléau vertical de la balance, bien qu’en équilibre, peut à tous moments tourner sur son axe, telle une roue.

Dès que l’on pousse une roue, elle se meut, roulant à la vitesse à laquelle on l’a poussée.

Et cette image de la roue qui tourne peut faire songer à une autre... celle du retour de manivelle.

 

 

偏 沉 則 隨 , 雙 重 則 滯 。

Pianchen ze sui, shuangzhong ze zhi.
(Si la balance) penche d’un côté alors (je) suis (ce mouvement), (si l’on reste tel) deux poids (lourds) alors (nous sommes) bloqués. »


Remarques : Les deux phrases précédentes, composées de 8 caractères chacune, sont liées.

L’image est la suivante, si on place 500 g dans chaque plateau d’une balance. Cette dernière reste en équilibre. Puis, si subitement on ajoute 999 livres d’un côté, le fléau tourne immédiatement sur son axe et le plateau tombe avec fracas.

En revanche, si, pour compenser, on ajoute aussitôt 999 livres sur l’autre plateau, la balance conserve son équilibre. Les « Deux poids » (Shuangzhong) s’annihilent.

 

 

每 見 數 年 純 功 , 不 能 運 化 者 , 率 皆 自 為 人 制 , 雙 重 之 病 未 悟 耳 。

Mei jian shunian chungong, buneng yunhua zhe, shuai jie zi wei ren zhi, shuangzhong zhi bing wei wu er.
« Lorsque (l'on) voit (quelqu'un qui pratique depuis de) longues années, (qu'il) ne peut transformer (l’attaque), (qu’il) se laisse dominer par l'adversaire, (c'est qu'il) n'a pas compris (ce) défaut des deux poids (lourds). »

 

Remarques : Il faut d’abord céder, pour ensuite contraindre. Lorsque deux débutants s’affrontent, on croirait voir deux jeunes taureaux.

 

 

欲 避 此 病 , 須 知 陰 陽 ﹕ 黏 即 是 走 , 走 即 是 黏 ; 陰 不 離 陽 , 陽 不 離 陰 ; 陰 陽 相 濟 , 方 為 懂 勁 。

Yu bi ci bing, xu zhi Yinyang : nian jishi zou, zou jishi nian ; Yin bu li Yang ; Yang bu li Yin ; Yinyang xiang ji, fang wei dongjing.

« (Si on) veut éviter ce défaut, il faut connaître (le principe du) Yin et (du) Yang : coller c’est se dérober, se dérober c’est coller ; le Yin va avec le Yang, le Yang va avec le Yin ; le Yin et le Yang se secourent l’un l’autre, (ceci est) le moyen d’acquérir la Force qui comprend. »

 

Remarque : Plus haut, l’auteur a déjà mis en parallèle : Coller (Nian) et se Dérober (Zou), dans le passage : « Il (est) dur je (suis) souple (cela) se nomme se dérober, je suis (derrière) son dos (cela) se nomme coller. »

Si l’adversaire tente de tirer, on cède en Collant (Nian) ; s’il tente de pousser, on cède en se dérobant (Zou). Les deux actions se complètent et, au bout du compte, se ressemblent, il s’agit toujours de céder souplement en restant collé...

 

 

懂 勁 後 愈 練 愈 精 , 默 識 揣 摩 ,漸 至 從 心 所 欲 。

Dongjing hou yu lian yu jing, moshi chuaimo, jian zhi congxin suoyu.
« (Avec) la Force qui comprend plus on s’exerce plus on devient subtil, cachez (ce secret et) approfondissez (le), jusqu'à (l’utiliser) progressivement à volonté. »

 

Remarques : Plus encore que leurs techniques, les experts en arts martiaux répugnaient à livrer leurs secrets biomécaniques et stratégiques qui donnent leur sens à ces techniques.
Certains de ces secrets sont aujourd’hui quasiment tombés dans l’oubli.

 

 

本 是 捨 己 從 人 , 多 誤 捨 近 求 遠 。

Ben shi sheji congren, duo wu shejin qiuyuan ».
« Il est primordial de renoncer à soi (pour) suivre l’autre, plus d’un (s’y est) trompé (en) renonçant à ce qui est près pour rechercher ce qui est loin. »

 

Remarque : Lorsque l’on veut utiliser la force de l’attaquant, on se livre parfois à des manoeuvres compliquées ; on lâche notre saisie afin d’en reprendre une autre qui nous paraît plus prometteuse ; on court après l’adversaire. Pendant ce temps, ce dernier se récupère.
La vérité est plus simple, l’autre est collé à nous, pourquoi le lâcher ? Il faut renoncer à ce qui est loin et compliqué, pour profiter de ce qui est simple et à portée de main.

 

 

所 謂 差 之 毫 釐 , 謬 之 千 里 , 學 者 不 可 不 詳 辨 焉 !

Suowei cha zhi haoli, miu zhi qian li, xuezhe buke buxiang bian yan !
« (C’est) ce qu’on appelle l’erreur d’un cheveu, (qui devient) une erreur de mille li, comment le lettré pourrait-il expliquer parfaitement (ceci) ! »

 

Remarques : L’erreur d’un cheveu (qui devient) une erreur de mille li est une paraphrase de l’expression précédente.

La simplicité et la profondeur de ce principe stratégique est une compréhension qui est au delà des mots.

 

 

是 謂 論 。

Shi wei lun.
« Ainsi se termine le traité. »

 

 


Ce texte décrit la Force qui comprend (Dongjing), lors d’une confrontation de Poussées de mains (Tuishou).
Son importance est d’autant plus grande que ce concept stratégique n’est nullement limité au Taiji Quan. Il s’applique tout autant aux Exercices de mains collantes (Nianshou), à la Lutte chinoise (Shuai jiao), à l’art des Clefs (Qinna), de la lance, du bâton, de l’épée, etc.

Et même, plus généralement, à tout affrontement stratégique...

Afin que l’on appréhende mieux la richesse des arts martiaux chinois, il faut ajouter que ce Dongjing n’est qu’un principe parmi des dizaines d’autres...
Le stratège les combine, tel un dragon qui virevolte à la surprise de tous.


© Traduction Thomas Dufresne, Jacques Nguyên, 2007.
Tous droits réservés.

20 janvier 2007

Le Tuishou

On peut diviser les distances de combat en deux groupes, les distances courtes (Duanda) et les distances longues (Changquan).

Dans le premier groupe, les assaillants sont en contact, dans le second, ils ne le sont pas encore.

Le premier groupe est si important que le Taiji Quan lui consacre un entraînement spécial : la Poussée de mains (Tuishou). On s’y entraîne à déséquilibrer l’adversaire, essentiellement en le tirant (Lu) ou en le poussant (An).

Biomécaniquement, pour pousser efficacement, il faut exercer une force rectiligne dont le vecteur traverse le centre de gravité de la personne poussée.

Lorsque l'on tire, au contraire, il faut éviter ou contourner notre propre centre de gravité. Il est recommandé même d’éviter ou de contourner l’axe vertical qui traverse notre tronc, axe qui passe grosso modo par ce centre de gravité.

Bien entendu, cela se fait en tournant autour de cet axe. Idéalement, notre axe de rotation est l’axe du combat, autour duquel les deux opposants tournent. Ceci est particulièrement visible dans l’Aïkido.

L’exercice de Poussée de mains (Tuishou) du Taiji Quan est une alternance, où l’un pousse vers le centre de gravité de l’autre, tandis que l’autre, pour se défendre, dévie cette force vers le côté, en tirant. Le premier peut alors chercher à réorienter le vecteur de force, vers le centre de gravité de l’autre, par exemple en poussant avec l’épaule (Kao)...

Lorsqu’une action longitudinale (pousser ou tirer) n’est pas suffisante, il faut déséquilibrer latéralement. Pour ce faire, on se sert en général d’un couple de force, couple de force sur lequel il y aurait tout autant à disserter.

15 décembre 2006

Quelques termes techniques vietnamiens

Bài : leçon, enchaînement, forme.

Bài binh khí : enchaînement d'armes.

Bài côn : enchaînement de bâton.

Bài quyền : enchaînement de boxe.

Bài thiệu : texte sous forme de poème décrivant les techniques d'un enchaînement de boxe ou d'armes.

Bình Định : région au Centre du Vietnam, réputée pour ses écoles de boxe et de bâton ; un proverbe dit : « Allez à Bình Định admirer les filles s’entraîner au bâton et à la boxe » (Ai về Bình Định mà coi, con gái Bình Định múa roi đi quyền).

Binh khí : armes.

Căn bản : base technique.

Côn : bâton à deux têtes.

Đao : sabre.

Giản : arme ayant la forme d'une barre de fer rectangulaire avec manche et sans pointe.

Gươm : épée à un seul tranchant, spécifique du Vietnam.

Hồng Gia : nom vietnamien du Hongjia chinois ; au Vietnam plusieurs écoles différentes portent ce nom.

Kiếm : épée à double tranchants.

Lam Sơn Võ thuật đạo : école de Quách Văn Kế.

Lưỡng tiết côn : terme moderne pour désigner le nunchaku ; arme ajoutée dans le répertoire de certaines écoles au Vietnam à partir des années 1970.

Môn phái : école, style d'arts martiaux.

Nhị tiết côn : voir à Lưỡng tiết côn.

Quyền : poing, boxe.

Roi : bâton à une tête.

Sa Long Cương : école fondée par Trương Thanh Đăng.

Tam tiết côn : fléau à trois branches.

Tấn : position.

Thảo : autre appellation d’un enchaînement d’armes ou de boxe.

Thế : technique.

Thiếu Lâm : nom vietnamien de Shaolin.

Thức : technique.

Thương : lance.

Trung Sơn Võ đạo : école de Mai Văn Phát.

Việt Võ Đạo : art martial vietnamien, terme Hán-Việt désignant l’école fondée par Nguyễn Lộc.

Võ Bà Trà Tân Khánh : boxe originaire du village Tân Khánh, au Sud du Vietnam; Hồ Văn Lành, plus connu sous le surnom Từ Thiện, enseignait cette boxe à Saigon.

Võ Đạo 武道 : voie de l’art martial ; terme souvent ajouté à la suite du nom d’une école (Lam Sơn Võ thuật đạo, Trung Sơn Võ đạo, Việt Võ Đạo…) ; appellation empruntée aux Japonais (Budo), d'abord par le Việt Võ Đạo, puis par plusieurs écoles du Sud.

Võ khí, vũ khí : armes.

Võ Lâm : école de Nguyễn Văn Sáu dit Đoàn Tâm Ảnh.

Võ Việt Nam : art martial vietnamien ; en France nom de l’école de Nguyễn Đức Mộc.

Vovinam Việt Võ Đạo : école de Nguyễn Lộc ; Vovinam est la contraction du terme Võ Việt Nam.

14 décembre 2006

L’origine du Taiji Quan et son rapport avec le Shaolin Quan

En 1994, dans notre livre « Taiji Quan art martial ancien de la famille Chen » (aujourd’hui épuisé), nous proposions une étude historique nouvelle sur l’origine du Taiji Quan.

Voici, légèrement résumé, ce que nous écrivions alors :

Pour essayer d'être plus clair, nous allons articuler cette discussion en huit points. Précisons que l'hypothèse sur l'origine du Taiji Quan, présentée ici, est inédite. Ce n'est qu'une hypothèse, mais elle a le mérite de s'appuyer sur des faits vérifiables.

1er point

C'est seulement à partir de la génération de Chen Wangting (17e siècle), que les Chen commencent à être cités pour leur dextérité martiale. Chen Wangting serait-il alors le créateur du Taiji Quan, ou le tiendrait-il d'un autre boxeur étranger à la famille ?

2e point

Le lettré Tang Hao (1897-1959) qui fit des recherches à Chenjia Gou (le village de la famille Chen), a formulé l'hypothèse que le Taiji Quan aurait été mis au point par Chen Wangting (1600-1680), à partir notamment du traité du Général Qi Jiguang (1528-1588), le Jixiao Xinshu. En effet, ce livre contient 32 techniques illustrées, synthèse de 16 boxes différentes de la fin de la dynastie des Ming (1368-1644), or 29 des 32 noms de ces techniques se retrouvent dans les sept enchaînements anciens du Taiji Quan. De plus, certaines de ces techniques ressemblent à celles du Taiji Quan.

Il nous semble qu'ainsi, Tang Hao a démontré clairement, que le Taiji Quan a été fortement influencé par la boxe de Qi Jiguang, mais il n'a peut-être pas démontré que l'influence fut directe... Chen Wangting n'a-t-il eu en main que le livre de Qi Jiguang, ou a-t-il appris d'un autre boxeur qui descendrait directement ou indirectement de Qi Jiguang ?

3e point

A une cinquantaine de kilomètres du village des Chen se trouve le Monastère Shaolin (Monastère de la "Petite forêt"), rendu célèbre en Occident par une série hollywoodienne et des films commerciaux de Hong-Kong. Hélas aujourd'hui, le temple est peuplé d'athlètes et d’acrobates qui vendent une boxe de Shaolin modernisée à l'usage des touristes passionnés, fortunés et parfois un peu naïfs... Pourtant ce monastère connut de beaux jours et sa boxe fut réputée.

Si l'on compare les enchaînements actuels du Shaolin Quan (la Boxe de Shaolin), enfin ceux qui semblent les plus anciens, avec ceux du Taiji Quan, on est frappé par la ressemblance. Plus d'une trentaine de techniques et un enchaînement (Paochui), portent en effet le même nom.

Aujourd'hui d'innombrables livres paraissent. Mais autrefois les noms des techniques n'étaient pas révélés aussi facilement au grand public, il fallait apprendre cette boxe pour les connaître.

Nous soulignons ceci, afin d'expliquer que souvent des noms identiques sont l'indice que les boxes sont proches parentes !

Au hasard de nos investigations, nous avons ainsi relevé, parsemés dans les trois quarts des enchaînements de Shaolin, les noms de techniques de Taiji Quan suivants :

- Baihe Liang Chi (La grue blanche déploie ses ailes),
- Bai Jiao (Balayer le pied),
- Bai She Tu Xin (Le serpent blanc dardant sa langue),
- Bai Yuan Xian Guo (Le singe blanc offre un fruit),
- Baiyun Gai Ding (Les nuages blancs couvrent les sommets),
- Chao Tian (Se dresser vers le ciel),
- Chong (Attaquer),
- Da Hu (Frapper le tigre),
- Dan Bian (Le fouet),
- Dang Tou Pao (Tirer à bout portant avec un canon),
- Er Qi Jiao (Donner un coup de pied sauté),
- Fan Shen (Se retourner),
- Fu Hu (Subjuguer le tigre),
- Haidi Lao Yue (Sortir la lune du fond de la mer),
- Huai Zhong Pao Yue (Porter la lune dans son sein),
- Huang Long San Jiao Sui (Le dragon jaune agite l'eau trois fois),
- Jingang Daodui (Jingang martèle),
- Jin Ji Du Li (Le coq d'or debout sur une patte),
- Kua Hu (Chevaucher le tigre),
- Lan Zhou (Bloquer avec les coudes),
- Lian Huan Pao (Les trois coups de canon qui s'enchaînent),
- Niaolong Bai Wei (L'oiseau-dragon remue la queue),
- Qi Xing (Former les sept étoiles),
- Que Di Long (Le dragon joue à terre tel un moineau),
- Tongzi Bai Guanyin (L'enfant qui vénère Guanyin),
- Saotang Tui (Balayer avec la jambe),
- Shi Zhi Jiao (Croiser le pied),
- Shi Zhi Shou (Croiser les mains),
- Wan Gong She Hu (Tirer à l'arc sur le tigre),
- Weituo Xian Gan (Weituo montre sa perche),
- Xianren Zhi Lu (Le dieu qui montre le chemin du doigt),
- Xie Xing (Avancée oblique),
- Xuan Feng Jiao (Le coup de pied cyclone),
- Yanzi Zhuo (L'hirondelle picore),
- Ye Ma Fen Zong (La crinière du cheval sauvage séparée par le vent),
- Yu Nü Chuan Suo (La fille de jade lance la navette),
- Zhan Shou (La main coupante),
- etc.

Comme on le voit, la liste est longue. De plus, la théorie des deux boxes, présente quelques analogies (le Chansi, le Fajing, l'alternance du Gang et le Rou, les quatre Liang qui gouvernent mille livres, etc.) Bref, le Taiji Quan et le Shaolin Quan ont l'air d'être d'assez proches cousins.

Notons enfin que plusieurs des techniques que nous venons de citer, se trouvent également dans le livre de Qi Jiguang.

Nous pouvons conclure de cela qu'il semblerait que les boxes de Shaolin et de Chenjia Gou ont toutes deux subi l'influence de celle de Qi Jiguang, et que, vu la proximité du Mont Song et de Chenjia Gou, l'une des deux boxes soit à l'origine de l'autre ou tout du moins l'ait fortement transformée.

4e point

Les noms de Jingang et de Weituo (deux divinités protectrices, gardiennes des temples bouddhiques) qui sont donnés par exemple : au deuxième mouvement du Diyilu ("Premier enchaînement" du style Chen) et au 47e mouvement du Taiji Danjian (l'Epée du Taiji), ainsi que celui de Guanyin (une déesse très importante du panthéon bouddhique) qui est donné à la deuxième posture du Taiji Shisan Gan (l'enchaînement des "Treize techniques de la perche du Taiji"), ne correspondent pas à des techniques de la boxe de Qi Jiguang.

Ces trois divinités bouddhiques pourraient donc laisser penser que le Taiji Quan est un héritier du vieux Shaolin Quan, lui-même héritier de l'art du Général Qi. La moitié environ, des enchaînements de Shaolin contiennent en effet, au moins une technique de Qi Jiguang.

Rappelons que le Monastère Shaolin avait pour coutume d'inviter les experts de Wushu (Art martial), afin d'enrichir ses connaissances.

Mais poursuivons...

5e point

L'historien du Wushu, Matsuta Takachi, dans son "Historique des arts martiaux chinois" (Zhongguo Wushu Shilue), parle lui aussi de ressemblances troublantes. Il cite le Hongquan (le Poing rouge) qui était jadis le quatrième enchaînement de Taiji Quan, et le met en rapport avec le Hongquan, son homonyme, pratiqué au Monastère Shaolin.

De plus, dans un enchaînement de bâton du style de Chen Wangting, le Panluo Bang et dans un enchaînement de bâton du Monastère Shaolin, Matsuta Takachi trouve quatre techniques analogues et ayant le même nom :

- Chaotianshi, la Posture dressée vers le ciel,
- Danshanshi, la Posture du Mont Dan,
- Disheshi, la Posture du serpent rampant,
- Kuajianshi, la Posture où l'on enjambe l'épée.

6e point

Ce que Matsuta Takachi ne précise pas, c'est que deux de ces techniques de bâton (Chaotianshi et Kuajianshi) se retrouvent aussi dans le traité de la lance de Qi Jiguang ; et surtout que ces quatre techniques se trouvent dans un traité de Cheng Chongdou, paru en 1621 : Shaolin Gunfa Chan Zong, les "Explications des vrais techniques du bâton de Shaolin" !

Alors cela signifierait-il, que c'est le Shaolin Quan qui a influencé le Taiji Quan, puisque Cheng Chongdou est né une quarantaine d'années avant Chen Wangting ?

7e point

En 1984, un livre paru dans la province du Henan, et intitulé Shaolin Wushu, présente un enchaînement dénommé Xinyiquan (la Boxe du coeur et de la pensée, à ne pas confondre avec la "Boxe de la forme et de l'esprit" : Xingyi Quan). Jia Zhaoxuan y déclare que sa famille détient cette boxe depuis un de ses ancêtres : Jia Shuwang, qui apprit le Shaolin Quan au monastère.

Jia Zhaoxuan explique que son ancêtre a recopié un vieux manuscrit au monastère, manuscrit qui décrivait cet enchaînement. Tout ceci se passait sous le règne de l'Empereur Kangxi (1662-1723), c'est-à-dire autour de l'époque de la mort de Chen Wangting. Hélas la bibliothèque de Shaolin a brûlé lors de l'incendie du temple en 1928. Or ce Xinyi Quan présente la même succession de techniques que le Diyilu (le Premier enchaînement) du Taiji Quan et les noms mêmes des techniques présentent des analogies certaines et nombreuses !


medium_Jia1.JPGmedium_Jia2.JPG

Enchaînement Xinyiquan de la famille Jia







medium_Jia3.JPG

Jingang martèle (Jingang Daodui) du Xinyiquan de la famille Jia

medium_ChenZhaokui1.JPG


Jingang martèle (Jingang Daodui) par Chen Zhaokui (1927-1981) d'après Chen shi Taiji Quan de Shen Jiazhen, Beijing, 1963

medium_Jia4.JPG

Technique de frapper le tigre (Da hu shi) du Xinyiquan

medium_ChenZhaokui2.JPG

Courber le dos et faire Kao (Bei zhe kao) par Chen Zhaokui

medium_Jia5.JPG

Technique basse (Xia shi) du Xinyiquan

medium_ChenZhaokui3.JPG

Tomber en croix (Die cha) par Chen Zhaokui

medium_Jia6.JPG


Les bras en croix, donner un coup de pied (Shi zi jiao) du Xinyiquan

medium_ChenZhaokui4.JPG



Les bras en croix, balayer le lotus (Shi zi bai lian) par Chen Zhaokui





Lorsque, à la publication de ce livre chinois, nous avons fait cette découverte, nous avons été frappés entre autres, par plusieurs faits.

- Premièrement, les sites de Shaolin et de Chenjia Gou, ne sont distants que de deux jours de marche. D'ailleurs Chen Wangting s'y est rendu, pour tenter de raisonner son ami Li Jiyu, au 17e siècle.

- Deuxièmement, le Shaolin Quan et le Taiji Quan du style Chen, contrairement à ce que l'on pense habituellement, ont une théorie, des techniques et des enchaînements présentant de troublantes similitudes.

- Troisièmement, le Shaolin Quan, comme le Taiji Quan, doit beaucoup à la boxe du Général Qi Jiguang.

- Quatrièmement, certaines techniques existent ou existaient, dans les deux boxes, mais ne se retrouvent pas dans la boxe de Qi...

8e point

Le Monastère Shaolin a participé à la lutte contre les "Pirates japonais" (Wo kou) au 16e siècle, en envoyant sur place des moines guerriers. Vu les mauvais résultats obtenus par l'armée chinoise et les champions de Wushu (Art martial), le Général Qi fut appelé pour sauver la situation. Les techniques du général et de son armée, réussirent, là où d'autres avaient échoué. La boxe de Qi Jiguang fut alors entourée d'un légitime prestige et il est tout à fait possible que des moines de Shaolin aient pu s'initier à l'art du Général Qi.


Conclusion à ces huit points

Tout ceci, nous amène à penser, que sous l'influence de la boxe du Général Qi Jiguang (1528-1588), le Shaolin Quan (la Boxe de Shaolin) fut profondément réorganisé.

Puis quelques années plus tard, Chen Wangting (1600-1680), Jiang Fa ou un autre, apprit ce nouveau Shaolin Quan, et l'apporta au village des Chen.

Enfin, le Shaolin Quan fut ensuite et plusieurs fois, complètement réorganisé.

Bref, si notre hypothèse est la bonne, le Taiji Quan descendrait de la boxe de Qi, par l'intermédiaire du Shaolin Quan du 16e ou 17e siècle.

Bien sûr le Taiji Quan a dû subir d'autres influences et les Chen n'ont pas manqué de modifier leur art pour tenter de l'améliorer.

Toujours est-il que la Boxe du Taiji recèle des caractéristiques que l'on ne retrouve ni chez Qi Jiguang, ni chez les Jia, ni au Monastère Shaolin, comme l'alternance très marquée de la lenteur et de la rapidité, qui font de lui, un art original, bien qu'évidemment héritier du Wushu (Art martial) de l'ancienne Chine.

----------------------

Depuis, nous avons fait d'autres découvertes que nous espérons publier un jour.

Quant à l'historien Matsuta Takachi, au moment même où nous publions ceci en France, il sortait lui aussi, dans la revue japonaise Wushu, une étude sur les liens historiques entre le Shaolin Quan et le Taiji Quan...

08 décembre 2006

Les origines du Võ Lâm

L'Art martial de la forêt (Võ Lâm) est une célèbre boxe vietnamienne, très présente, tant en France qu'au Viêt-Nam. Plusieurs écoles ont incorporé ses noms de techniques ou ses enchaînements, en les modifiant plus ou moins.

medium_18LaHan1973.jpg

Selon l’ouvrage Thập bát La hán quyền (de Đoàn Tâm Ảnh et Hàng Thanh, paru en 1973), l'école Võ Lâm vient de Nguyễn Văn Sáu. Et il y est précisé que :

1) Nguyễn Văn Sáu a appris en 1913 avec Mộc Đức Thiền Sư au temple Phi Lai, sur le mont Mã Dương dans le Nord de la Chine.

2) Les professeurs de Võ Lâm n’acceptant que quatre élèves en tout et pour tout, Nguyễn Văn Sáu fut le quatrième et dernier élève de son professeur.

A ce jour en Chine, nous n’avons trouvé trace ni des trois autres élèves de Mộc Đức Thiền Sư, ni de leur boxe, ni d’un mont Mã Dương.

medium_LaMaiNuong001.jpg

Selon le roman Lã Mai Nương (de Tề Phong Quân, publié dans les années 60) :

1) L'école Thiếu Lâm Bắc Phái est implantée sur le mont Mã Dương, dans le Sơn Đông (Shandong).

2) Le professeur n’accepte que quatre élèves.

medium_18LaHan1993.jpg

En 1993, dans son livre Thập bát La hán quyền toàn tập (co-écrit avec Lạc Việt), Nguyễn Văn Sáu reconnaît sans détour qu’il a créé les 72 techniques de base (Thất thập nhị huyền công) de son style, ainsi que les 18 Tiểu xà quyền (en fait 12 enchaînements, plus un nommé Liên hoán), et les 18 La hán quyền.

Le programme du Võ Lâm est en effet :

72 techniques de basemedium_72TTNHC1973.4.jpg

13 enchaînements Tiểu xà quyền

18 La hán quyền : Mê tông La hán quyền, Kim cang La hán quyền, Lôi công La hán quyền, Lực công La hán quyền, Khí công La hán quyền, Môn tinh La hán quyền, Pháp thân La hán quyền, Công cứ liên châu La hán quyền, La hán Ngũ hành quyền, La hán Hình quyền, La hán Linh thú ngũ quyền, La hán Lôi trận quyền, La hán Cương quyền, La hán Long môn quyền, La hán Hùng quyền, La hán Mai hoa quyền, La hán Liên hoàn quyền, La hán Hoa quyền.


medium_VoLam1.2.JPG


medium_VoLam2.2.JPG


medium_VoLam3.2.JPG

28 novembre 2006

La Porte centrale

Chacun conviendra que pour franchir le seuil d’une porte (Men 門), il est préférable que cette dernière soit ouverte...

C’est pourquoi l’un des premiers objectifs du stratège est d’Ouvrir une porte (Kaimen 開門), afin que son attaque puisse s’y engouffrer.

Mais, quelle porte choisir ?

Traditionnellement, l’entrée principale est la « Porte centrale » (Zhongmen 中門).

Où se trouve cette Porte centrale ?

Sur la Ligne centrale (Zhongxin xian 中心線).

La Ligne centrale est une ligne droite qui passe par les sternums des deux combattants. Elle représente à la fois leur principale ligne d’attaque et leur principale ligne de défense. Car, on le sait, le plus court chemin d’un point à un autre est la ligne droite.

C’est en empruntant cette ligne que les attaques sont les plus fulgurantes et c’est en la contrôlant que la défense devient la plus impénétrable. Dès lors, on comprend avec quel soin le combattant se doit de surveiller ce passage.

La théorie se complique quelque peu, lorsque l’expert se glisse sur le côté pour contre-attaquer. Puisqu’il change brusquement la direction de sa Ligne centrale. Du coup, il devient difficile pour son adversaire de contrôler cette nouvelle Ligne centrale.


Les généraux Qi Jiguang 戚繼光 (1528-1588) et Yu Dayou 俞大猷 (1503-1579) distinguaient, dans leurs écrits, la Grande porte (Damen 大門) de la Petite porte (Xiaomen 小門).
La première se trouve à l’intérieur (c’est-à-dire entre les deux bras) et la deuxième à l’extérieur (c’est-à-dire à l’extérieur du bras le plus avancé).


Alors, quand faut-il entrer par la Grande porte et quand faut-il lui préférer la Petite porte ?

Le Shaolin Quan 少林拳 de la famille Liang 梁 conseille : « Si l’on est en infériorité on passe par la porte latérale, si l’on est en supériorité on entre par le palais central » (Li ruo cai bianmen, li qiang jin zhonggong 力弱踩邊門,力強進中宮).

Ces concepts de Porte et de Ligne centrale, de Grande et de Petite porte sont fondamentaux dans les arts martiaux chinois. Ils éclairent les techniques du Tanglang Quan 螳螂拳, Taiji Quan 太極拳, Tongbei Quan 通背拳, Xingyi Quan 形意拳, Shaolin Quan 少林拳, Yong Chun 詠春, Hongjia 洪家, Baihe 白鶴, Baimei 白眉, lance, épée, bâton à une tête, etc.

26 novembre 2006

Exemple simple d'un coup de poing

Selon une recommandation citée par Shen Jiazhen 沈家楨 (1891-1972) dans son Chen shi Taiji Quan 陳式太極拳 (Le Taiji Quan du style Chen) édité en 1963 :

« Pour s'entraîner au Taiji Quan, il faut entraîner le corps et non entraîner la main »
(Lian Taiji Quan yao lian zai shen shang, bu lian zai shou shang 練太極拳要練在身上,不要練在手上)


Que veut dire : entraîner le corps et non la main ?

Prenons un exemple :
Lorsque le débutant donne un coup de poing, son bras s’allonge vers l’avant, peu d’énergie cinétique est produite au bout du compte.

En revanche, lorsque l’expert décoche un coup de poing, tout son corps participe à la frappe.
Il commence par transférer son centre de gravité vers le pied avant, en détendant sa jambe arrière et en tournant ses hanches. Lors de ce transfert, les hanches ne montent ni ne descendent. Puis, sa colonne vertébrale se plie ou se déplie comme un ressort. Le bras est alors lancé vers l’avant, tel un fouet. Le mouvement est souple et félin, les muscles ne se contractent qu’au moment de l’impact et les muscles antagonistes restent relâchés. Aussitôt après la frappe, le corps se détend à nouveau. L’attaque est comme un coup de tonnerre dans un ciel serein.

25 novembre 2006

Lịch sử quyền thuật Trung Quốc, những giai đoạn quan trọng

1- Khởi nguyên có môn vật
Vết tích khảo cổ xưa nhất về quyền thuật Trung Hoa là một cây lược bằng gỗ ; trên cây lược nầy có khắc hình hai người, mình trần, đang ôm vật dưới sự giám định của một trọng tài. Cây lược nầy được tìm thấy vào năm 1975 trong ngồi mộ thời triều đại nhà Tần (221-207 trước Tây Lịch).
Thời nhà Hán (206 trước Tây Lịch-220 sau Tây Lịch), môn vật lấy tên là Tương Phốc (Xiangpu) (Tương Phốc có nghĩa là xô đẩy lẫn nhau). Hai chữ Xiangpu đọc theo tiếng Nhật là Sumo, như vậy môn Sumo hiện nay có thể cho ta một khái niệm về môn vật của Trung Hoa thời nhà Hán. Vả lại những lực sĩ môn Tương Phốc thời nhà Đường (618-907) mang y phục của những lực sĩ môn Sumo hiện nay.
Dưới thời nhà Tống (960-1279), những võ sĩ mới bắt đầu mang áo để tiện níu kéo. Như vậy những kỹ thuật đấu vật thời đó từ từ biến đổi và giống những kỹ thuật đấu vật hiện nay.

2- Quyền thuật dưới triều đại nhà Minh
Mãi cho tới triều đại nhà Minh (1368-1644) quyền thuật mới thịnh hành và phát triển nhờ có phong trào mại võ : trường võ dạy lấy tiền được mở ra cho công chúng.
Trước đó quyền thuật chỉ dành riêng cho những người sống về nghề võ : võ sư, quân lính, hiệp sĩ, tiêu sư, cướp đạo... Như những anh hùng (Lổ Trí Thâm, Võ Tòng, Lý Quỳ...) trong Thủy Hử Truyển, sách viết vào thế kỷ thứ 14.
Văn nhân, nhà sư trước đó ham chuộng múa võ khí, lúc nầy lần lần học quyền thuật.
Vào khoảng 1550, một trong ba đại văn hào thời đó, Đường Thuận Chi (1507-1560) soạn quyển Võ Biên, một phần ghi lại những môn quyền thuật phổ biến lúc đó. Khoảng mười năm sau, vào 1562, Thích Kế Quang (1528-1588) một trong những đại danh tướng của lịch sử Trung Hoa, xuất bản quyển Kỹ Hiệu Tân Thư, trong đó cả một chương được dành để ghi lại môn quyền thuật của ông.
Thích Kế Quang có công đánh đuổi bọn cướp biển Nhật Bản (được gọi là Nụy Khấu) hoành hành dọc bờ biển Trung Hoa. Để huấn luyện quân sĩ, ông lựa chọn những đòn thế đơn giản, nhưng rất hữu hiệu. Quân của ông có tiếng là trăm trận trăm thắng !
Cùng một thời, danh tướng Du Đại Du (1503-1579) ghi lại trong quyển "Kiếm kinh", xuất bản năm 1565, nguyên tắc chiến đấu côn pháp ; hầu hết môn phái hiện đại đều lấy lại nguyên tắc đó để áp dụng vào quyền thuật.
Khoảng 1600, quyền thuật chùa Thiếu Lâm bắt đầu danh tiếng. Trước đó chùa chỉ nổi tiếng về côn pháp.

3- Từ thế kỷ thứ 17 tới thế kỷ thứ 19
Thế kỷ thứ 17 là một thời kỳ hưng thịnh của quyền thuật Trung Hoa, nhiều danh tài xuất hiện :
- Trần Vương Đình (1600-1680), chỉ huy dân quân của huyện Ôn, thuộc tỉnh Hà Nam, sáng chế Thái Cực Quyền,
- Cơ Tế Khả (1602-1683), thuộc tỉnh Sơn Tây, lập ra Tâm Ý Quyền, sau được gọi lại là Hình Ý Quyền,
- Phương Thất Nương, một cô gái người tỉnh Phước Kiến, sau khi nhìn một con hạc trắng bay nhảy, chế ra Bạch Hạc Quyền, và dạy môn nầy tại huyện Vĩnh Xuân.
Rồi có những nhân vật như :
- Ngô Chung (1712-1802), người Hồi Giáo thuộc tỉnh Hà Bắc, lập Bát Cực Quyền,
- Trần Hưởng, người tỉnh Quảng Đông sống vào thế kỷ thứ 19, sáng lập lúc ông chỉ 30 tuổi, môn Thái Lý Phật,
- Đổng Hải Xuyên (1797-1882) truyền bá môn Bát Quái Chưởng tại Bắc Kinh...
Vào năm 1894, tại Bắc Kinh, bốn võ sư đề nghị hợp những môn võ họ đang dạy lại thành một môn mà họ gọi là Nội Gia. Bốn người đó là :
- Trình Đình Hoa (?-1900) thuộc Bát Quái Chưởng,
- Lưu Vĩ Tường thuộc Hình Ý Quyền,
- Lưu Đức Khoan (?-1911) thuộc Dương gia Thái Cực Quyền,
- Lý Tồn Nghĩa (1847-1921) thuộc Hình Ý Quyền và Bát Quái Chưởng.

4- Loạn Quyền Phỉ
Vào cuối thế kỷ thứ 19, Nghĩa Hòa Đoàn là một hội có chủ trương giải thoát nước Trung Hoa khỏi sự xâm chiếm của ngoại quốc. Hội viên là những người trẻ tuổi đầy nhiệt huyết, được huấn luyện cấp tốc vài thế võ. Phần đông đều học qua môn Thần Quyền. Môn quyền nầy nhờ sự cầu thần nhập vô người hội viên để che chở họ, dao đâm không lủng, súng bắn không trúng... Diễn biến cho thấy là sự thật nghịch hẳn với sự chờ đợi của họ ! Những phần tử nầy được trang bị côn, đao, kiếm và sau đó được thêm một ít súng đạn.
Vào tháng 6 năm 1900, một số đông hội viên với sự trợ giúp của quân đội nhà Thanh, vây khu sứ quán (Đông giao dân hạng) tại Bắc Kinh. Cho tới 55 ngày sau, nhằm ngày 15 tháng 8, quân đội của tám nước (đó là Bát Quốc Liên Quân gồm : Anh, Mỹ, Đức, Pháp, Nga Sô, Nhật Bản, Ý Đại Lợi và Áo) chiếm thành Bắc Kinh, dẹp tan những người nổi loạn. Giai đoạn nầy của lịch sử Trung Hoa có tên là Loạn Quyền Phỉ.

5- Hai hội võ vào đầu thế kỷ thứ 20
Dưới sự ảnh hưởng về tổ chức của Tây Phương, chánh phủ Trung Hoa đã đứng ra hệ thống hóa võ thuật nhằm dễ phổ biến. Hai hội võ được khai trương :
- Tinh Võ Thể Dục Hội tại Thượng Hải vào năm 1909,
- Trung Ương Quốc Thuật Quán tại Nam Kinh vào năm 1927.
Cho tới bây giờ, ai muốn học võ phải tìm một người thầy chấp nhận mình, một công trình không dễ, tuy là có nhiều trường võ đã mở. Hai hội nêu trên lần đầu tiên phổ thông võ thuật, ai muốn học thì chỉ cần tới hội ghi tên.
Hai hội nầy sửa đổi lại võ thuật để biến thành một môn thể thao. Tấn pháp được hạ thấp, đòn thế được đơn giản hóa.
Kể từ năm 1911, Tinh Võ Thể Dục Hội bắt đầu mở chi nhánh khắp nước Trung Hoa, tại Tân Gia Ba (Singapore), Mã Lai, Sài Gòn, vân vân.
Hai hội lựa chọn vài bài quyền trong những môn phái dạy tại đây (Đàm Thoái, Bí Tông Quyền, Đường Lang Quyền, Thiếu Lâm Quyền...) để lập một chương trình riêng cho mỗi hội.
Môn võ hình thành tại Nam Kinh Trung Ương Quốc Thuật Quán được gọi là Trường Quyền nhưng có vài người đứng đầu hội cho đó là Thiếu Lâm Quyền ! Họ đã lạm dụng tên của hai môn võ danh tiếng thời xưa.
Ta phải công nhận là sự hệ thống hóa theo Tây Phương nầy có nhiều khía cạnh tốt. Nhờ đó mà những bậc thầy có dịp trao đổi kỹ thuật và ý kiến. Thêm vào đó, Đường Hào (1897-1959), thuộc ban quản trị của hội, viết ra nhiều quyển sách với cái nhìn khách quan về lịch sử võ thuật Trung Hoa, phân biệt truyền kỳ và lịch sử.

6- Lôi đài
Vào năm 1928, tại Nam Kinh, Trung Ương Quốc Thuật Quán tổ chức lần đầu tiên một cuộc thi võ tập trung võ sĩ toàn quốc (Quốc Thuật Quốc Khảo). Cuộc thi đấu diễn trên Lôi Đài không phân hạng cân, không mang bao tay. Nhưng vì quá nhiều võ sĩ bị thương, ban tổ chức đành phải hỏi những võ sĩ còn lại bầu võ sĩ vô địch! Người được bầu là Chu Quốc Phước (1891-1968), người tỉnh Hà Bắc, thuộc phái Hình Ý, La Hán, Suất Giao và Bát Quái.
Hiện giờ, sau một thời kỳ nghiêm cấm, những cuộc Tán Thủ được tổ chức lại, nhưng võ sĩ mang găng tay và áo giáp để tránh bị thương tổn nặng.

7- Phong trào "Tân Võ Thuật"
Phong trào canh tân võ thuật bắt đầu tại hai hội võ từ đầu thế kỷ, được tiếp tục trong thập niên 1950. Vào năm 1956, Quốc Gia Thể Ủy lập ra môn Trường Quyền, một tổng hợp của những môn quyền thuật thịnh hành trong Hồi dân. Môn quyền thuật nầy bỏ phần nhiều đòn thế chiến đấu để giữ lại và thêm vào những động tác mang tính chất biểu diễn. Xin nhắc lại là môn Trường Quyền nầy không có liên hệ với môn Trường Quyền của Nam Kinh Trung Ương Quốc Thuật Quán, hay với những môn Trường Quyền cổ xưa ! Môn Trường Quyền sáng tạo vào năm 1956 tương tự với môn thể thao nhào lộn, môn quyền nầy có tổ chức những cuộc biểu diễn bài quyền với trọng tài chấm điểm, y hệt như ta thường thấy với môn nhào lộn ! Những "võ sĩ" của môn Trường Quyền thường ít biết áp dụng đòn thế họ đã học qua.
Cùng một năm, môn Thái Cực Quyền được đơn giản hóa, trên tiêu chuẩn của môn Dương gia Thái Cực Quyền, để hình thành bài Giản Hóa Thái Cực Quyền gồm 24 thức.
Từ đó nhiều môn phái khác được chế hoặc sửa đổi : Nam Quyền, Đường Lang Quyền, Túy Quyền, Hầu Quyền, Xà Quyền, Địa Tranh Quyền...

8- Phong trào "Kung-Fu"
Phong trào "Kung-Fu" (Công Phu) nhập Tây Phương vào thập niên 1970. Sự kiện bắt đầu với những phim võ thuật của tài tử người Mỹ gốc Hoa, Lý Tiểu Long (Bruce Lee, 1940-1973). Lý sáng chế môn Tiệt Quyền Đạo (Jeet Kune Do), một môn quyền lẫn lộn Quyền Anh, Vịnh Xuân Quyền, Túc Quyền Đạo (Taekwondo), vài thế từ nhiều môn quyền thuật khác nhau. Bên Tây Phương, người ta đã lầm tưởng là tài tử Lý Tiểu Long sử dụng võ thuật Trung Hoa, và từ đó phong trào "Kung-fu" bành trướng.


Nguyễn Quí Jacques & Dufresne Thomas
(Trích từ "Dictionnaire des arts martiaux chinois", Paris, 1996)

Sự phân chia võ thuật Trung Hoa

Trước hết, chúng tôi muốn đề nghị một phân loại của Võ Thuật Trung Hoa :
- những môn vật còn được gọi là Suất Giao, là những môn có tính chất thể thao, bao gồm :
  * môn vật Trung Hoa,
  * môn vật Mông Cổ,
  * môn vật của tỉnh Vân Nam...,
- những môn quyền thuật có tính cách võ dũng, chứa đựng vài thế vật, binh khí và nội công;
- và cầm nả thuật.
Phải thêm vào đó những môn khí công; thịnh hành nhất là :
- Trạm thung công,
- Bát đoạn cẩm,
- Dịch cân kinh hay Dịch cân pháp,
- Ngũ cầm hý,
- Đại nhạn công,
- Hạc tường trang khí công...

Người Trung Hoa có hai cách phân chia Võ Thuật : một cách dựa theo địa thế, một cách dựa theo khuynh hướng.

I- Nam phái và Bắc phái

1) Trình bày
Một tục ngữ mà chúng ta thường nghe trong giới võ thuật Trung Hoa, là "Nam quyền Bắc thoái". Theo tục ngữ đó, phía nam sông Trường Giang (hay Dương Tử Giang) võ phái thường dùng quyền, còn phía bắc sông Trường Giang võ phái chuộng đòn chân. Chúng ta có thể hiểu theo hai nghĩa :
- quyền thuật phương Bắc sử dụng đòn đá hơn đòn tay, còn quyền thuật phương nam dùng đòn tay hơn đòn chân;
- ngược lại với Nam quyền thuật, Bắc quyền thuật dùng chân để phát lực.

2) Luận bàn
Cách phân chia nầy không được chính xác lắm, vì ta có thể tìm thấy vài trường hợp vượt ra ngoài lệ ấy :
- Hình Ý Quyền là một môn quyền thuật của hai tỉnh Hà Bắc và Sơn Tây, tức là ở phương Bắc, nhưng lại ít sử dụng đòn đá;
- môn Bát Cực Quyền củng vậy;
- Hoàng Phi Hồng (1847-1924), danh tài Nam quyền thuật, nổi tiếng nhờ cước pháp;
- Mộc Gia, quyền thuật của tỉnh Quảng Đông, có tiếng nhờ đòn đá,
- Thái Lý Phật, một trong những danh phái tại tỉnh Quảng Đông, có rất nhiều thế đá;
- Hồng Gia, một phái khác của tỉnh Quảng Đông, dùng tấn pháp thật rộng (còn gọi là đại mã), và dùng chân để phát lực;
- môn Cẩu Quyền, Nam quyền thuật, dựa vào đòn đá để chiến đấu...
Ngoài những trường hợp trên, ta có thể nói là quyền thuật Nam phái sử dụng nhiều đòn tay hơn những môn Bắc phái. Còn võ thuật phương bắc giàu kỹ thuật hơn : ngoài những đòn đánh hay đòn đá lại có nhiều thế hất, nhiều thế cầm nả tinh xảo...
Nhưng chúng ta không nên coi tục ngữ đó như một sự phân chia chính xác. Đây là một cách vắn tắt một sự kiện bằng bốn chữ "Nam quyền Bắc thoái".

3) Hai sự phân chia khác
Năm 1911, Tinh Võ Thể Dục Hội đề nghị cách sắp xếp theo những con sông quan trọng của Trung Hoa. Cách sắp xếp đó như sau :
-những môn phái nằm trên vùng đồng bằng sông Trường Giang,
-những môn phái nằm trên vùng đồng bằng sông Hoàng Hà,
-những môn phái nằm trên vùng đồng bằng sông Châu Giang.
Vì những trao đổi văn hóa và kỹ thuật lúc xưa thường theo dòng sông mà lưu hành.

Theo chúng tôi nghỉ, nếu muốn được chính xác hơn, ta phải sắp xếp võ thuật Trung Hoa theo những trung tâm phát triển. Những môn quyền cùng một nơi sẽ ảnh hưởng lẩn nhau.
Những trung tâm phát triển danh tiếng của võ thuật Trung Hoa là :
-Tung Sơn tại tỉnh Hà Nam,
-Quán huyện và Lao Sơn tại tỉnh Sơn Đông,
-Thương Châu tại tỉnh Hà Bắc,
-Quảng Châu và Phật Sơn tại tỉnh Quảng Đông,
-Phước Châu tại tỉnh Phước Kiến,
-Nga Mi Sơn tại tỉnh Tứ Xuyên, vân vân...

II- Nội Gia và Ngoại Gia

1) Trình bày
Từ thế kỷ thứ 19, theo một truyền kỳ, võ thuật Trung Hoa được chia ra hai khuynh hướng đối nghịch nhau :
- quyền thuật thuộc Nội Gia bao gồm :
- Thái Cực Quyền,
- Bát Quái Chưởng,
- Hình Ý Quyền,
lại có học giả thêm vào đó :
- những quyền thuật thuộc núi Võ Đang, và
- Lục Hợp Bát Pháp Quyền;

- và quyền thuật thuộc Ngoại Gia bao gồm tất cả những môn quyền pháp còn lại.

Nhiều giải thích được nêu ra :
- những môn Nội Gia Quyền gốc từ núi Võ Đang và những môn Ngoại Gia Quyền xuất từ núi Tung Sơn; người ta còn gọi Nội Gia Quyền là Võ Đang Môn và Ngoại Gia Quyền là Thiếu Lâm Môn ;
- Nội Gia Quyền dùng Khí và Ngoại Gia Quyền dùng Lực ;
- động tác trong Nội Gia Quyền mềm dẻo và chậm đều, động tác của Ngoại Gia Quyền cương ngạnh và nhanh lẹ;
- Nội Gia Quyền thủ nhiều hơn công, Ngoại Gia Quyền công nhiều hơn thủ;
- Nội Gia Quyền xuất từ Đạo gia, Ngoại Gia Quyền gốc từ Phật gia;
- Nội Gia Quyền luyện trong nhà, Ngoại Gia Quyền tập ngoài sân;
- vân vân...

2) Luận bàn
Nhưng khi ta xét kỷ lại :
- ba môn chánh trong Nội Gia không có gốc từ núi Võ Đang (Thái Cực Quyền xuất từ tỉnh Hà Nam, Hình Ý Quyền từ tỉnh Sơn Tây, Bát Quái Chưởng từ tỉnh Hà Bắc),
- những môn nầy không phải những môn duy nhất xử dụng Nội Công,
- trong Nội Gia có môn Hình Ý Quyền dùng động tác nhanh lẹ và cương ngạnh,
- và Nội Gia Quyền chỉ mới hấp thụ lý thuyết Đạo gia sau nầy;
và :
- có những môn thuộc Ngoại Gia không xuất phát từ chùa Thiều Lâm,
- Ngoại Gia Quyền không chỉ chú trọng luyện Lực mà còn luyện Nội Công (theo truyền thống của Thiếu Lâm Quyền, môn phái vừa cương vừa nhu, có nội và ngoại công),
- trong Ngoại Gia có vài môn chủ trương động tác nhu nhuyễn,
- Ngoại Gia Quyền không xuất phát cả từ Phật gia (theo truyền thuyết, Bạch Mi Quyền được sáng lập bởi một đạo sỉ);
và để cho một ví dụ :
- chiến đấu pháp của Hình Ý Quyền (thuộc Nội Gia) rất tương tự với chiến đấu pháp của Bát Cực Quyền (thuộc Ngoại Gia);
nên ta rất nghi ngờ những định nghĩa nêu trên về Nội và Ngoại Gia.

3) Nghiên cứu lịch sử
Chúng ta phải phân biệt ra hai Nội Gia Quyền : một võ phái và một nhóm bao gồm ít nhất ba võ phái.

a) Nội Gia Quyền cổ truyền
Theo sự hiểu biết hiện nay, danh từ Nội Gia bắt nguồn từ văn hào kiêm triết học gia Hoàng Tông Hy (1610-1695), và được ông ghi lại trong bài "Vương Chinh Nam mộ chí minh" viết vào năm 1669.

Nội Gia Quyền vào thời đó là tên của một võ phái với lý thuyết đối lập với lý thuyết của Thiếu Lâm Quyền (dĩ tỉnh chế động, dỉ khí vận lực, dỉ nhu khắc cương, hóa kình, vân vân...). Theo Hoàng Tông Hy, người tổ khai sáng môn phái là Trương Tam Phong, một đạo sỉ danh tiếng tại núi Võ Đang (vào thế kỷ thứ 12 hay 15, vì có hai đạo sỉ trùng tên sống vào hai thời đại khác nhau).

Để đáp lại với núi Tung Sơn, núi của Phật Giáo, người ta đã đưa ra núi Võ Đang, núi của Đạo Giáo. Và người đã đối nghịch Đạt Ma (thế kỷ thứ 6), một tăng sỉ, với Trương Tam Phong, một đạo sỉ.

Như vậy Vương Chinh Nam (1617-1669), Hoàng Tông Hy và con của Tông Hy là Hoàng Bách Gia (1634-?) có luyện Nội Gia Quyền. Và Hoàng Bách Gia có truyền lại quyển "Nội Gia Quyền pháp", một quyển sách đã ảnh hưởng rất nhiều môn Nội Gia hiện đại.
Cho tới nay, ta tưởng là môn Nội Gia Quyền đã bị thất truyền. Nhưng vào đầu thế kỷ thứ 20, Trần Hiểu Đông (1871-1934) và Vương Vệ Thận công khai truyền dạy chi phái Tòng Khê Nội Gia Quyền...

b) Nội Gia Quyền hiện đại
Sự phân chia nầy xẩy ra tại Bắc Kinh, vào năm 1894, khi Bát Quái Quyền sư Trình Đình Hoa (1848-1900) (đệ tử của Đổng Hải Xuyên, người sáng lập ra Bát Quái Chưỡng), Hình Ý Quyền sư Lưu Vĩ Lan, Lý Tồn Nghỉa (1847-1921) và Dương gia Thái Cực Quyền sư Lưu Đức Khoan (?-1911) (đệ tử của Dương Lộ Thiền) đề nghị hợp ba môn quyền thuật nầy lại làm một môn phái riêng biệt lấy tên là Nội Gia Quyền...

Sau đó Tôn Lộc Đường (1861-1933), đệ tử của Trình Đình Hoa, trong quyển sách "Bát Quái Quyền học", xuất bản vào năm 1916, xác nhận là Trương Tam Phong là tổ của môn Nội Gia Quyền, và ghi là Thái Cực Quyền, Hình Ý Quyền và Bát Quái Chưởng thuộc môn Nội Gia.

Vào năm 1921, Hứa Vũ Sinh trong quyển "Thái Cực quyền thế đồ giải", cho Trương Tam Phong là tổ của môn Thái Cực Quyền. Và ông lại nhập cây phả hệ của Thái Cực Quyền vào cây phả hệ của Nội Gia Quyền.
Ông cho là Vương Tông, thuộc Nội Gia Quyền, học trò của Trương Tam Phong (thế kỷ thứ 15) là Vương Tông Nhạc (thế kỷ thứ 18). Nhưng Vương Tông là người tỉnh Thiểm Tây sống vào thế kỷ thứ 15 còn Vương Tông Nhạc là người tỉnh Sơn Tây sống vào thế kỷ thứ 18 !

Hứa Vũ Sinh cho bắt nguồn từ Vương Tông Nhạc hai chi phái :
- Nam phái Thái Cực Quyền với những danh sư của Nội Gia Quyền như Trần Châu Đồng (thế kỷ thứ 16), Trương Tòng Khê (thế kỷ thứ 16), Diệp Cận Tuyền, vân vân, ba người nầy đều là người tỉnh Triết Giang,
- Bắc phái Thái Cực Quyền với những danh sư của Thái Cực Quyền như Tưởng Phát (thế kỷ thứ 16 và 17), Trần Trường Hưng (thế kỷ thứ 18), người tỉnh Hà Nam, Dương Lộ Thiền, người tỉnh Hà Bắc, vân vân...
Và từ đó, gần như ai củng xác nhận là Thái Cực Quyền là thuộc Nội Gia đối lập với Thiếu Lâm Quyền, thuộc Ngoại Gia.
Mặc dầu vào năm 1939, Hứa Vũ Sinh trong quyển "Thái Cực Quyền", đính chánh sự sai lầm của cuốn sách trước của ông.

Sự phân tách hiện đại của võ thuật Trung Hoa ra hai đại môn phái Nội Gia và Ngoại Gia phát xuất từ một sự ngụy tạo hóa lịch sử võ thuật Trung Hoa, chớ không dựa vào nguyên tắc hay phương pháp luyện tập khác biệt, như ta có thể lầm tưởng !

4) Kết luận
Để kết thúc phần nầy, chúng tôi xin tóm tắt lại :
- hiện nay, có ba loại Nội Gia Quyền :
- môn Nội Gia Quyền xưa phát sinh từ thế kỷ thứ 17, mà tới những năm gần đây người ta tưởng là thất truyền,
- những môn võ cận đại tụ hợp trên núi Võ Đang nhằm mục đích thỏa mãn sự đòi hỏi của du khách (những môn nầy có gốc từ Dương gia Thái Cực Quyền, quyển sách của Thích Kế Quang, Bát Cực Quyền, Bát Quái Chưởng...) và
- một nhóm bao gồm Thái Cực Quyền, Bát Quái Chưởng và Hình Ý Quyền, nhóm nầy được hình thành vào thế kỷ thứ 19;
- và có ba loại Ngoại Gia Quyền :
- cổ Thiếu Lâm Quyền dạy tại chùa trước thập niên 1980,
- tân Thiếu Lâm Quyền hiện dạy tại chùa, môn nầy một phần có gốc từ môn Thiếu Lâm xưa,
- những môn võ hiện nay tự xưng có gốc từ chùa Thiếu Lâm.

III- Cựu và Tân Võ Thuật
Để kết thúc bài báo nầy, chúng tôi muốn đề nghị một sự sắp xếp thứ ba, vì hiện nay, nhiều thầy võ dạy lẩn lổn những môn võ truyền thống có tính cách võ dũng, và những môn võ tân thời có tính cách thể thao và biểu diễn. Ta phải phân biệt rõ rệt hai nhóm võ thuật nầy.
Những môn võ tân thời, ngoài vài môn (Ý Quyền, Kim Cang Thiền Tự Nhiên Môn...), không có thực dụng chiến đấu. Những môn nầy có tính cách biểu diễn đoạt huy chương.
Những môn võ truyền thống, ngoài vài môn, có áp dụng chiến đấu và tác dụng dưỡng sinh.


Nguyễn Quí Jacques và Dufresne Thomas
(Trích từ "Dictionnaire des arts martiaux chinois", Paris, 1996)

VỊNH XUÂN QUYỀN, truyền thuyết và thực tại

medium_STVT47_VinhXuan001.jpg

Vịnh Xuân Quyền là một trong những môn võ phát triển mạnh ngoài Trung Quốc (Việt Nam, Mỹ, Âu Châu). Vì khuôn khổ hạn hẹp của bài báo nên một khảo sát có tính khoa học về lịch sử và lý thuyết của môn phái không thể hoàn thành. Bài nầy chỉ ghi nhận những điều gom góp từ tư liệu, sự học hỏi và hiểu biết của tác giả.

I- Nguồn gốc và phát triễn
Tại Quảng Đông và Hương Cảng, hiện lưu hành 2 thuyết về nguồn gốc của môn Vịnh Xuân Quyền.

1) Thuyết của Diệp Vấn và Lương Quang Mãn :
Thuyết của Diệp Vấn (Yip Man) cho Vịnh Xuân Quyền bắt nguồn từ Ngũ Mai sư thái, một trong năm người tương truyền đã trốn thoát cuc hỏa thiêu chùa Thiếu Lâm vào thế kỷ thứ 18. Bốn người kia là Phùng Đạo Đức, Chí Thiện thiền sư, Bạch Mi đạo nhân và Miêu Hiền.
Ngũ Mai sư thái, sau khi nhìn một cuộc ấu đả giửa con hạc và con cáo, sáng tác ra môn quyền mới rồi truyền môn đó lại cho Nghiêm Vịnh Xuân. Nghiêm dạy lại cho chồng là Lương Bác Trù. Lương Bác Trù sau đó cho tên là Vịnh Xuân Quyền.
Đệ tử của Lương Bác Trù là y sỉ Lương Lan Quế. Lương Lan Quế truyền cho Hoàng Hoa Bảo, diễn viên của một đoàn hát dạo. Vào thời đó, Vịnh Xuân Môn chỉ có quyền thuật và môn đao pháp gọi là Bát trảm đao. Trong đi hát của Hoàng Hoa Bảo, có một người lái thuyền, tên là Lương Nhị Để, giỏi môn Lục điểm bán côn (môn côn pháp nầy Lương học với... Chí Thiện thiền sư!). Hai người trao đổi nhau quyền, đao và côn. Lương dựa theo lý thuyết của Vịnh Xuân để sáng tác ra phương pháp "Li côn" (Niêm côn), tương tự như phương pháp "Li thủ" (Niêm thủ).
Theo Lương Quang Mãn (Quảng Đông), Nghiêm Vịnh Xuân không học với Ngũ Mai sư thái, mà sáng chế môn võ sau khi nhìn thấy bạch hạc đánh với thanh xà. Bà cùng với chồng là Lương Bác Trù đến Quảng Đông truyền dạy Vịnh Xuân Quyền cho bốn người hát dạo là Hoàng Hoa Bảo, Lương Nhị Để, A Cẩm (còn có tên là Đại Hoa Diện Cẩm) và Tôn Phước.
Lương Nhị Để truyền cho Lương Tán, người tỉnh Phật Sơn, một lương y với biệt danh là "Vịnh Xuân Quyền vương". Ông có bốn người học trò : hai đứa con trai là Lương Xuân và Lương Bích, Mộc Nhân Hoa và Trần Hoa Thuận tự Hoa Tiền Hoa.
Trần Hoa Thuận có tất cả 16 học trò : con trai Trần Nhử Miên, những đệ tử Ngô Trọng Tố, Lôi Nhử Tể, Diêu Tài, Quách Bảo Toàn, Diệp Vấn... Sau khi Trần Hoa Thuận mất, Diệp Vấn tiếp tục học với Ngô Trọng Tố. Sau đó Diệp Vấn được may mắn thọ giáo với Lương Bích, con trai của Lương Tán.
Trên đây chỉ ghi lại những điều được truyền lại trong giới võ thuật, dỉ nhiên chúng tôi không tin là chuyện Nghiêm Vịnh Xuân và Ngũ Mai có thật.

2) Thuyết của Bành Nam và Diệp Chuẩn :
Hiện nay tại tỉnh Quảng Đông, Vịnh Xuân Quyền vẩn được truyền dạy.
Theo Bành Nam (Pan Nam, 1909-1995), truyền nhân đời thứ hai của Lôi Nhử Tể và Trần Nhử Miên, môn Vịnh Xuân bắt nguồn từ ni cô Nhất Trần. Bà có một đệ tử là Trương Ngũ tự Than Thủ Ngũ, người tỉnh Hồ Nam.
Theo Diệp Chuẩn (Yip Chun), con của Diệp Vấn, quyển "Việt kịch sử nghiên cứu" của Khiếu Hà Quân, có ghi lại : "Trước triều Hoàng Đế Ung Chánh, sự phát triển của hát kịch ở tỉnh Quảng Đông rất hạn chế. Vì thiếu sự tổ chức qui mô. Dưới triều Hoàng Đế Ung Chánh (1723-1736), Trương Ngũ, tự Than Thủ Ngũ, người tỉnh Hồ Nam đem thuật hát kịch tới tỉnh Phật Sơn và tổ chức lại Hồng Hoa Hội quán. Từ đó Việt kịch mới phát triển." Sách còn ghi thêm : "Ngoài hát kịch ra, Than Thủ Ngũ còn giỏi võ thuật. Thế "Than thủ" của ông danh tiếng trong Võ Lâm."
Diệp Chuẩn còn tìm được trong "Trung Quốc hí khúc sử" của Mảnh Dao, quyển III, trang 631, xuất bản lần thứ nhất vào năm 1968, đoạn văn như sau : "Dưới triều Hoàng Đế Ung Chánh, Trương Ngũ không ở lại Kinh được, nên phải lẩn tránh tại Phật Sơn. Ông còn có biệt danh là Than Thủ Ngũ, rất giỏi văn chương và võ thuật, tinh thông nhạc và thuật hát kịch. Ông đặc biệt giỏi môn võ của Thiêu Lâm tự. Tại Phật Sơn, ông truyền lại môn hát kịch và võ nghệ trong giới "Hồng Thuyền đệ tử" và thành lập Hồng Hoa Hội quán. Cho tới nay, Trương Ngũ vẩn được tôn là tổ môn kịch của tỉnh Quảng Đông."
Vì chuyện Trương Ngũ tới Phật Sơn xẩy ra dưới triều đại Hoàng Đế Ung Chánh (1723-1736), hơn một trăm năm sự tích Nghiêm Vịnh Xuân (dưới triều Hoàng Đế Đạo Quang trị vì từ 1821 tới 1850) nên Diệp Chuẩn cho thuyết nầy đáng tin hơn. Vả lại thế Than thủ là một đặc kỹ của Vịnh Xuân Quyền, không tìm thấy trong môn phái khác. Và theo Diệp Chuẩn, bộ pháp "Nhị tự kiềm dương mã" thích hợp với sư di chuyển trên thuyền bè, nơi mà những người hát dạo thường sống!
Theo Bành Nam, Vịnh Xuân Quyền truyền từ Than Thủ Ngũ (đầu thế kỷ thứ 18) tới Hoàng Hoa Bảo, Lương Nhị Để và Đại Hoa Diện Cẩm, người trong giới "Hồng thuyền tử đệ".

3) Những nơi phát triển Vịnh Xuân Quyền :
Hiện nay tại Trung Quốc, Vịnh Xuân bành trướng tại tỉnh Quảng Đông. Tại Quảng Châu có Bành Nam, Sầm Năng; tại Phật Sơn có Lương Quang Mãn, Trần Ứng Tùng, Châu Kiện Cường; tại Thuận Đức, có cháu nội của Trần Hoa Thuận; tại Úc Môn, có Lương Quyền... Tất cả đều có nguồn gốc từ Trần Hoa Thuận.
Diệp Vấn (Yip Man, 1898-1972) là người đầu tiên phổ biến môn Vịnh Xuân tại Hương Cảng. Từ Hương Cảng, Vịnh Xuân Quyền bành trướng tới Âu Châu (Pháp, Anh, Đức...), Úc Châu và Mỹ Châu.
Môn Vịnh Xuân nhập Việt Nam nhờ công của Nguyễn Tể Vân (1877-1960). Tại đây, ông được biết với tên là Nguyễn Tế Công hay Cống Xếnh Xáng (Công Tiên sinh). Học trò tại Việt Nam là Nguyễn Duy Hải (1917-1988), Lục Vỉnh Khải (khoảng 1929-1979), Ngô Sĩ Quý, Trần Văn Phùng (1902-1988), Trần Thúc Tiền, Đổ Bá Vinh...
Bài bản ông truyền tại Việt Nam là Tiểu niểm đầu, Mộc nhân thung, Lục điểm bán côn và Bát trảm đao. Ông còn truyền thêm bài Ngũ hình quyền.
Theo Võ Lê, tại Sài Gòn, có Hoắc Phi Hùng, Huỳnh Bá Phước, Phùng Điềm truyền dạy Vịnh Xuân Quyền.
Và cuối cùng, chi phái của Diệp Vấn được lưu truyền vào thập niên 1970 trong một thời gian ngắn tại Sài Gòn.

II- Chương trình và đắc điểm
1) Chương trình :
Tại Trung Quốc và Hương Cảng, quyền thuật bao gồm ba bài quyền : Tiểu niệm đầu, Tầm kiều và Tiêu chỉ, và một bài Mộc nhân thung. Tại Quảng Đông bài Tiêu chỉ được dạy trước bài Tầm kiều. Hai bài binh khí của môn phái là : Bát trảm đao và Lục điểm bán côn.
Tại Việt Nam, Nguyễn Tế Công để lại hai chi nhánh :
- theo Hồ Nam Long, tại Sài Gòn, chi nhánh của Nguyễn Hải tự Hồ Hải Long (1917-1988) truyền dạy ba bài quyền : Tiểu niệm đầu, Ngũ hình quyền và Hạc hình hư bộ, một bài Mộc nhân thung và hai bài Bát trảm đao và Lục điểm bán côn,
- theo Hồ Nam Long, tại Hà Nội, có chi nhánh của Ngô Sĩ Quý; chương trình bao gồm Thủ đầu quyền, Khí công quyền, Ngũ hình quyền tổng hợp, Long quyền, Xà quyền, Hổ quyền, Báo quyền, Hạc quyền, Nhất linh bát (hay Một linh tám) và một bài Mộc nhân thung, trong binh khí có hai bài Bát trảm đao và Lục điểm bán côn.
Tại Việt Nam, chỉ bài đầu tiên (Tiểu niệm đầu hay Thủ đầu quyền) giống với bài Tiểu niệm đầu của chi phái Trung Quốc và Hương Cảng.
Sau đây, xin lược trình các bài bản để trình bày những đắc điểm của môn phái.

2) Tiểu niệm đầu :
Đặc điểm của bài là không chuyển bộ, suốt bài chỉ đứng thế "Nhị tự kiềm dương mã", thân thể hơi nghiêng về sau. Như tên cho thấy, bài chứa đựng những thế căn bản quan trọng của môn phái như Than thủ, Bàng thủ, Nhựt tự xung quyền, Phách thủ, Hộ thủ, Phục thủ... Toàn bài đánh hai tay nới giản, không dùng lực, đòn thế xuất phát trên "trung tâm tuyến".
Bài đặc biệt chú trọng luyện sự biến chuyển từ Phục thủ qua Hộ thủ, lúc luyện hai thế nầy giống như lạy Phật ba lần nên bài còn có tên là Tam bái Phật.

Thiệu bài Tiểu niệm đầu theo Lương Đỉnh (Leung Ting)
1- Mã khai bán bộ chi Nhị tự kiềm dương mã
2- Giao xoa than thủ giao xoa bát thủ cổn thủ thâu quyền
3- Nhựt tự xung quyền khuyên thủ thâu quyền
4- Than thủ bán khuyên thủ hộ thủ phục thủ
5- Trắc chưởng chánh chưởng than thủ khuyên thủ thâu quyền
6- Tả hữu án thủ hậu án thủ tiền án thủ
7- Lan thủ phất thủ lan thủ song chẩm thủ song than thủ tiêu chỉ thủ
8- Trường kiều án thủ song đề thủ thâu quyền
9- Trắc chưởng hoành chưởng thâu quyền
10- Than thủ chẩm thủ quát thủ
11- Lao thủ hạ lộ hoành chưởng thâu quyền
12- Bàng thủ than thủ ấn chưởng thâu quyền
13- Thoát thủ liên hoàn xung quyền thâu thức

Thiệu bài Tiểu niệm đầu theo Lương Quang Mãn (Quảng Đông)
1- Khai thung mã
2- Song giao tiển
3- Bài chỉ
4- Phật chưởng
5- Sát thủ
6- Lạp thủ
7- Xí chưởng
8- Than thủ
9- Bàng thủ
10- Thoát thủ

3) Tầm kiều :
Bài Tầm kiều chú trọng luyện chuyển bộ theo bộ pháp đặc biệt của môn phái. Lúc tiến theo thế "Đạp bộ", chân trước bước kéo chân sau lết theo, trọng tâm thân thể luôn luôn đặt tại chân sau. Lúc địch thủ tấn công, thế "chuyển mã" dời trung tâm tuyến và dẫn đòn đối thủ vào khoảng không. Đây là lý thuyết "dùng bộ pháp tìm tay (tầm kiều) đối thủ", "dùng eo xoay phá giải đòn công của địch"...
Ba thế đá được dẫn nhập : Đề thoái, Trực đăng thoái và Trắc sanh thoái. Môn sinh Vịnh Xuân Quyền thường dùng chân trước để đá, chân vừa đá liền tiến một bước tới để nhập nội liên hoàn đả kích đối thủ.
Những thủ pháp mới được dạy là Chánh thân vấn thủ, Phê tranh, Xuyên kiều, Trắc thân án thủ, Trừu chàng quyền, Đàn kiều xung quyền...

Thiệu bài Tầm kiều theo Diệp Chuẩn (Yip Chun)
1- Mã khai bán bộ chi Nhị tự kiềm dương mã
2- Giao xoa than thủ giao xoa bát thủ cổn thủ thâu quyền
3- Nhựt tự xung quyền khuyên thủ thâu quyền
4- Xuyên kiều chuyển mã cập lan thủ (tả hữu phê tranh)
5- Song phục thủ phách thủ chánh chưởng cập h thủ
6- Chuyển thân lan thủ giao xoa than thủ cập chuyển thân bàng thủ
7- Lan thủ xung quyền phất thủ phục thủ thoát thủ khuyên thủ thâu quyền
8- Cầm lan trắc thân lan thủ khởi đề thoái
9- Hoành đạp bộ trắc thân bàng thủ cập trắc thân giao xoa than thủ tam thức
10- Trừu chàng quyền phục thủ thoát thủ khuyên thủ thâu quyền
11- Trực đăng thoái đạp bộ đê bàng thủ cập song than thủ chánh thân song vấn thủ
12- Song trất thủ song ấn chưởng thâu quyền
13- Chuyển thân trắc sanh thoái trắc thân án thủ đàn kiều xung quyền
14- Liên hoàn xung quyền khuyên thủ thâu thức

Thiệu bài Tầm kiều theo Lương Quang Mãn (Quảng Đông)
1- Khai thung mã
2- Song giao tiển
3- Bài chỉ
4- Tầm kiều
5- Lan kiều thủ
6- Đơn bàng thủ
7- Song bàng thủ
8- Tam không thủ

4) Tiêu chỉ :
Bài Tiêu chỉ áp dụng nguyên lý "Dĩ công vi thủ" và "Dĩ đả vi tiêu". Những kỹ thuật mới là Quải tranh, Trắc thân vấn thủ, Thượng hạ sạn thủ, Khuyên cát thủ, Thượng hạ canh thủ... và bộ pháp Khấu bộ. Riêng thế đánh chỏ, chi phái Hương Cảng chỉ có một đòn (chỏ đánh tréo từ trên xuống), sau Diệp Chuẩn thêm hai thế khác : Phê trửu (chỏ đánh ngang) và Cập trửu (chỏ đánh tréo từ dưới lên) lấy từ chi phái Quảng Đông.
Bài còn dẫn nhập nguyên lý "dùng eo phát lực" và "lực quán chỉ". Và có tên là Tiêu chỉ vì sử dụng rất nhiều thế tiêu chỉ thủ (thế xỉa bằng đầu ngón tay).

Thiệu bài Tiêu chỉ theo Diệp Chuẩn (Yip Chun)
1- Mã khai bán bộ chi Nhị tự kiềm dương mã
2- Giao xoa than thủ giao bát thủ cổn thủ thâu quyền
3- Nhựt tự xung quyền khuyên cát thủ thâu quyền
4- Chuyển thân quải tranh tiêu chỉ thủ thâu quyền
5- Khấu bộ chuyển thân quải tranh tiêu chỉ thủ hạ lộ sạn thủ
6- Phục thủ thoát thủ thâu quyền
7- Chuyển thân quải tranh tiêu chỉ thủ
8- Phục thủ thoát thủ thâu quyền
9- Chuyển thân thượng hạ canh thủ phục thủ thoát thủ thâu quyền
10- Trắc thân vấn thủ chẩm thủ chuyển thân phục thủ thoát thủ thâu quyền
11- Tiêu chỉ thủ chuyển thân thượng lộ sạn thủ phất thủ phục thủ thoát thủ thâu quyền
12- Cầm nả thủ trừu chàng quyền ấn chưởng thâu quyền
13- Tam cúc cung đại huýnh hoàn thủ
14- Liên hoàn xung quyền khuyên thủ thâu quyền

Thiệu bài Tiêu chỉ theo Lương Quang Mãn (Quảng Đông)
1- Khai thung mã
2- Song giao tiển
3- Bài chỉ
4- Cập trửu
5- Quải trửu
6- Phê trửu
7- Nhị đồng thủ
8- Dương thủ
9- Tháp chùy
10- Bái phật

5) Li thủ và li cước :
Phương pháp "Li thủ" phát triển phản xạ đôi tay, môn sinh nhập nội vừa tiếp tay đối phương là tìm được sơ hở, tức thì tấn công. Chủ đích là đạt tới trình độ hai tay đánh đỡ không cần suy nghỉ. Tại Việt Nam, phương pháp có tên là "Niêm thủ".
"Li đơn thủ" (tập niêm thủ một tay) được dạy sau bài Tiểu niệm đầu. Đơn li thủ kết hợp theo một chu kỳ những thế Than thủ, Phục thủ, Chánh chưởng, Chẩm thủ, Nhựt tự quyền và Bàng thủ, và chú trọng sự chuyển biến giữa hai thế Than và Bàng thủ.
"Li song thủ" bắt đầu với "Bàn thủ" và tiếp với phương pháp "Nhất phục nhị" để cuối cùng tới li thủ tự do, áp dụng nguyên lý "Bất truy thủ", "Tá lực xảo đả", "Tiêu đả đồng thời", "Tá lực phản đàn, khiêu kiều sang công", "Kiều để xuyên xuất", "Án đầu ngật vỹ", "Lại lưu khứ tống, súy thủ trực xung"...
Trong phương pháp "Li cước" hai người đứng trên một chân, dùng chân kia chạm nhau, tạo sơ hở bằng những đòn móc chân (Khấu thoái) để rồi tấn công bằng những thế đá của môn phái.

6) Mộc nhân thung :
Thủ công phản biến thể hiện rõ trong bài nầy. Bài còn chủ luyện lực, kết cấu của mộc nhân buộc người tập phải biết dùng lực, mới làm rung chuyển thân của mộc nhân. Toàn bài của chi phái Hương Cảng gồm 140 thế sau Diệp Vấn giảm lại còn 116 thế, trong đó có 16 thế cước của môn phái (thật sự là 8 thế nhưng dùng bên trái và bên phải). Đặc biệt hai thế Thập tự thoái và Tiệt tảo thoái, ngược lại với tất cả thế cước khác, dùng chân sau để đá.
Theo Lương Đỉnh (Leung Ting), tám thế cước là : Trực đăng thoái, Hoành sanh thoái, Tà đà tất thoái, Thập tự thoái hay Hoành sái thoái, Tiệt tảo thoái, Khấu đàn thoái, Tà đà cước thoái, Hoành đà tất thoái.
Bài còn phát triển nguyên tắc "Tam giác".
Bài Mộc nhân thung chi phái Quảng Đông có hơn 160 động tác.

7) Lục điểm bán côn :
Cây côn sử dụng trong môn phái thuộc trường côn, dài ít nhất 2 thước rưỡi. Bộ pháp bao gồm Tứ bình mã và Tý ngọ mã là những bộ pháp thực dụng trong những môn phái tỉnh Quảng Đông, khác hẳn với những thế tấn đặc biệt của quyền thuật Vịnh Xuân.
Theo Lương Đỉnh, bảy thế côn căn bản là : Thương, Khuyên cái, Thiêu, Bát, Trừu, Đàn và Bán già.
Côn pháp tuy giới hạn về thế căn bản nhưng được hổ trợ bởi nguyên tắc "Tùy địch chi biến nhi biến", "Dĩ vô chiêu thắng hữu chiêu" và phương pháp "Li côn".
Phương pháp "Li côn" tương tự như "Li thủ", hai côn giao nhau chuyển động theo "Khuyên côn", từ đó ta tìm hay tạo sơ hở, kiềm chế hay đánh rơi côn đối phương để tiến nhập tấn công bụng, ngực, cổ họng hay màng tang địch thủ bằng những thế "Tiêu long thương", "Bán già"...

8) Bát trảm đao :
Đao sử dụng trong bài thuộc loại Hồ điệp song đao (song tô). Bài chia ra tám đoạn, mỗi đoạn phân tách một thế đao chánh. Như côn pháp, đao pháp áp dụng nguyên tắc kiềm chế hay đánh rơi binh khí địch để nhập nội an toàn kết thúc trận đấu.
Theo Lương Đỉnh, Diệp Vấn chỉ dạy bài Bát trảm đao cho bốn người đệ tử. Hiện nay, nhiều bài đao khác nhau mang tên nầy, khó phân biệt được bài nào truyền lại từ Diệp Vấn.
Theo Diệp Chuẩn, tám đoạn bài Bát trảm đao là : 1) Giáp đao thức, 2) Lập trảm đao, 3) Than trảm đao, 4) Song canh đao, 5) Cổn bàng đao, 6) Nhất tự đao, 7) Vấn đao, 8) Quải đao.

Ngoài những bài nêu trên, Vịnh Xuân Quyền còn có nhiều phương pháp luyện tập phụ thuộc bổ túc : đá Tam tinh thung, đánh bao cát...
***
Lịch sử Vịnh Xuân Môn hổn hợp nhiều truyền thuyết từ nguồn gốc khác nhau, cần xét lại trong một khuôn khổ khác. Chi phái của Diệp Vấn phổ biến hơn những chi phái khác. Vịnh Xuân Quyền sử dụng một số giới hạn đòn thế đơn giản nhưng hữu dụng. Là một phái chuyên cận chiến nên đã phát triển tới mức độ cao phương pháp "niêm thủ thính kình" và nguyên tắc "mượn lực địch để phản công". Riêng Lục điểm bán côn tuy không phải là một võ khí dùng đánh gần nhưng không vượt ngoài lý thuyết đã dựng lên một nên tảng vững chắc cho môn phái.

Tài liệu tham khảo
1) Leung Ting, Wing Tsun Kuen, Hương Cảng, 1978,
2) Genealogy of Ving Tsun Kuen, Hương Cảng, 1990,
3) Yip Chun, 116 Wing tsun dummy techniques, Hương Cảng, 1991,
4) Wu Bin, Li Xingdong và Yu Gongbao, Essentials of Chinese Wushu, Trung Quốc, 1992,
5) Yip Chun và Connor Danny, Wing Chun, skill and philosophy, Luân Dôn, 1992,
6) Võ Lê, Vài danh sư Vịnh Xuân phái trước năm 1975 ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Sổ Tay Võ Thuật 35, năm 1996.

Nguyễn Quí Jacques & Dufresne Thomas
Báo Sổ Tay Võ Thuật số 47, tháng 5 năm 1997